Kỷ niệm Khóa tu Mùa Hạ, lần thứ bảy,
tại Tu Viện Cát Trắng từ ngày 25 tới 27 tháng 5, năm 2007


Hình ảnh: Lê Phúc
Bài tường thuật: Lưu Kim Chi

“Về đi lữ khách đường xa vắng
Cát bụi sầu thương vướng đã nhiều
Thanh thản ngủ trong lòng đạo cả
Cho hồn thơ ấu được nâng niu.”

Khóa tu Mùa Hạ, lần thứ bảy tại Tu Viện Đào Tràng Cát Trắng đã được tổ chức từ ngày 25 tới 27 tháng 5 2007 vừa qua, với sự tham dự của khoảng hơn một trăm phật tử tại địa phương và từ nhiều tiểu bang khác. Gia đình hai vợ chồng chúng tôi đã tham dự các khóa tu học trước tại Tu Viện Cát Trắng, thế nhưng với sự thanh thản trong lòng sau mỗi khóa tu học và sự háo hức mong đợi đến khoá tu mới được trở về “một cõi tâm linh” ở Cát Trắng, thì vẫn tràn đầy nguyên vẹn.

NIỀM VUI VỀ THĂM LẠI TU VIỆN CÁT TRẮNG

Lối vào Tu Viện, con đường trải đá trắng, vẫn tự tại, vẫn thanh thản dẫn đưa người tu học về với cuộc hành trình tâm linh của chính mình. “Mỗi bước đi trong cuộc hành trình chính là một cuộc hành trình.” (Every step of the journey is the journey.) Chỉ khi nào tự
mình bằt đầu cuộc hành trình tâm linh của chính mình, thì khi ấy mình mới thực sự trở về với đạo cả, để tâm từ của ta đươc nâng niu và trưởng dưỡng.

Chánh điện của Tu Viện Cát Trắng vẫn còn đang trong công trình xây cất và chưa hoàn tất. Tuy nhiên khác với khóa tu lần trước, vào tháng hai đầu năm 2007, trong khóa tu này chánh điện đã có một số công trình xây cất được thành hình. Chánh điện đã có cửa sổ, các bóng đèn và chụp đèn đã được gắn vào vị trí; dây điện màu vàng, màu đỏ đã được chạy dài theo chánh điện, và dọc theo bốn bức tường, các nẹp gỗ đã được đóng vào vách để sẵn sàng lắp vách gỗ (dry wall).

Cửa sổ trắng, French window, làm cho chánh điện thêm phần gần gũi ấm áp và giúp cho sự điều hòa không khí lưu chuyển được thoáng, mát và không nóng bức. Tất cả công trình xây dựng trong chánh điện tuy chưa hoàn tất, nhưng đã mang lại một sự an lạc trong tâm đại chúng khi đặt chân vào đây.

Bên ngoài chánh điện, quý Phật Tử về tu học, có người mới về tu tập lần đầu, có người thường về từ những kỳ tu tập trước, đều an lạc đi dạo thăm Tu Viện, ngay từ những phút đầu tiên, khi xe chạy vào con đường thiền Cát Trắng. Hồ nước trước chánh điện đã được vét thêm bên phía phải, từ chánh điện nhìn ra, cho tròn đều. Nhà thiền, Zen Room, vẫn tĩnh lặng như pháp thiền vô ngôn, và tôn tượng Phật Quán Âm vẫn lặng lẽ an nhiên tự tại như thể Ngài vẫn thường thùy từ gia hộ cho tất cả chúng sanh.

NHẮN NHỦ CỦA THẦY TRỤ TRÌ

Thầy đã nhắc nhở đại chúng là một khi đã về Tu Viện để tu học thì nên
“ Im lặng như chánh pháp và nói năng như chánh pháp.” Nếu ta tập sự im lặng, chúng ta mới có cơ hội nhìn sâu vào tâm của ta để tu tập sửa đổi.

Để giúp đỡ đại chúng tu tập pháp im lặng, Thầy giao phó cho hai vị đại diện, mỗi vị một cái chuông, lắc lên lúc đại chúng quên sự im lặng mà nói chuyện, nhất là lúc ăn cơm. May mắn thay cho đại chúng, và cũng hơi tiếc cho 2 vị bảo hộ chuông im lặng là, suốt buổi cơm trưa ngày đầu tiên, không vị nào có cơ hội xử dụng chuông. Đại chúng đã thật sự cùng nhau thực hành pháp tu ăn cơm trong chánh niệm, ngay buổi cơm trưa đầu tiên. Trong khóa tu này đại chúng được nghe giảng pháp và dùng cơm cùng với Chư Tôn Đức trong chánh điện mới.

Thầy Trụ Trì nói thêm rằng “Nơi đây là chốn trang nghiêm thanh tịnh, có từ bi lực của chư Phật gia hộ. Quí vị nào bị phiền não bủa vây, xin quí vị nên thường đến Chánh Điện cầu nguyện, quí vị sẽ cảm nhận được sự gia hộ và sự an lạc”.

ĐẠO TỪ CỦA THƯỢNG TỌA CHỨNG MINH

Thượng Tọa Chứng Minh, Thầy Giác Như, chùa Từ Quang, San Francisco, trong phần đáp từ, Thầy đã nói:” Đây là một điều phước lành cho Thầy khi Thầy được mời về chỉ dạy và hướng dẫn tu tập đời sống tâm linh cho đại chúng, bởi vì trong con đường hành đạo của Thầy, Thầy vẫn cố gắng làm những điều lợi lạc phát huy chánh pháp”.

Thầy cho biết nỗi vui mừng lớn nhất của Thầy là thấy được cơ sở của Tu Viện đang được xây dựng vững chắc, và đó là do công lao của tứ chúng nơi Tu Viện Cát Trắng và công đức của phật tử từ nhiều nơi gởi về. Nơi đây, Thầy nói, sẽ là nguồn tâm linh giúp đỡ tất cả chúng ta tăng tiến trên con đường tu đạo giải thoát.

Thầy nói tiếp là trong Phật Giáo, tâm tịnh thì cảnh tịnh.
Muốn cho tâm tịnh, phải tạo cho môi trường, hoàn cảnh chung quanh tịnh, để tịnh hóa tâm. Môi trường tịnh và tâm linh tịnh sẽ giúp được ta điều gì? Sẽ giúp ta tự chiêm nghiệm những điều đã làm trong quá khứ và sẽ biết mình sẽ làm gì trong tương lai để tự giải trừ những khổ đau trong đời sống của chúng ta.

Khi ta làm được điều đó, là ta nâng bình diện tâm linh lên một bậc, và nhất là ta sẽ biết đi tìm những điều hạnh phúc thật trong cuộc đời ta. Đây mới chính là điều mà trong Phật Giáo ta gọi là, “đem lại hạnh phúc thật sự cho đời sống của chúng ta”. Niềm hạnh phúc đó, chúng ta có thể đem về nhà. Thầy đã nói là Thầy rất vui thưởng lãm cảnh đẹp của thành phố, trên đường từ phi trường về Tu Viện. Thầy cũng vui với tấm lòng chân thành của tứ chúng tại Tu Viện và Thầy sẽ mang niềm vui ấy về lại chùa Từ Quang bên San Francisco.

LỄ TRƯỞNG TỊNH VÀ LỄ LẠY THÙ ÂN

Trưởng là trưởng dưỡng thiện căn, Tịnh là dứt trừ nghiệp chướng.
Chúng ta lạy trưởng tịnh để sám hối nghiệp căn, chí thành cầu xin sám hối ba nghiệp về thân, khẩu và ý được thanh tịnh. Đây là nền tảng cao qúy trong việc tu học, gieo trồng
hạt giống thiện và bồi đắp căn lành. Phật tử được lạy Lễ Trưởng Tịnh hai lần, thật là một niềm hạnh phúc vô biên.

HỌC GIÁO LÝ BÀI MỘT:
LÀM SAO CÓ HẠNH PHÚC VÀ VƠI SỰ KHỔ ĐAU?

Thượng Tọa Thích Giác Như, chùa Từ Quang, San Francisco, đã giảng cho đại chúng ba đề tài có liên hệ với nhau, trong ba bài học giáo lý, bài một, bài hai và bài ba, xin xem tiếp theo đây.

Thầy được đại chúng vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt xuyên qua ba bài giảng và các câu trả lời Phật Pháp vấn đáp của Thầy. Thầy có lối trả lời rất gọn, chính xác, minh bạch và tế nhị, nên đại chúng rất cổ võ phần câu hỏi và trả lời.

Đề tài của bài một là: “Đạo Phật giúp lợi ích gì cho chúng ta?”

Để mang lại hạnh phúc, một trong những lợi ích thiết thực mà đạo Phật giúp chúng ta trong cuộc sống là cho ta một cái nhìn đúng, một chánh kiến về một pháp gọi là “khổ”.

Khổ là gì? Khổ là không được như ý. Khổ bao phủ cả những khi ta có hạnh phúc.
Gốc rễ của khổ là sự bám víu, là chấp. Chúng ta chấp cái gì?
Chúng ta chấp là có ta, có tiền tài, danh vọng, sự nghiệp của ta.
Nhiều khi chúng ta chấp chính tiền tài, danh vọng, sự nghiệp, là ta.
Vậy nên khi mất những thứ kể ra đó, là ta cảm thấy như mất chính mình.
Vì sự bám víu đó nên khi có sự mất mát hay không đựơc như ý là ta khổ.

Theo giáo lý nhà Phật chúng ta nên quán rằng tất cả mọi pháp hay mọi việc đều do:
  • duyên sanh, nghĩa là không có việc gì tồn tại độc lập hay cá biệt,
  • vô thường, nghĩa là luôn luôn thay đổi, không cố định, không vĩnh cửu,
  • vô ngã, nghĩa là không có cái ta ở trong đó.

Nói về phương pháp giải phóng khổ đau, có thể nêu lên 3 con đường, đó là:
  1. con đường đạo đức giới,
  2. con đường thiền định,
  3. con đường trí tuệ

Đạo Phật rất thực tế, không rời cuộc sống, giúp ta học làm người, học tỉnh thức, thấy tâm của mình và giúp ta giải phóng được gốc rễ của sự khổ đau. Với giáo lý nhiệm mầu, vĩ
đại cuả Thế Tôn, chúng ta tri ân Ngài cả đời không đủ.

HỌC GIÁO LÝ BÀI HAI:
NGHIỆP, NGHIỆP LỰC VÀ NGHIỆP QUẢ

Thầy giảng tiếp, Thầy nói trong quá trình làm giảm thiểu sự khổ đau, ta đã biết ta phải làm gì? Ta phải tụng kinh, lập nguyện, niệm Phật để thấy được tâm của mình, rồi từ đó thể hiện ra lời nói và hành động của mình. Hành động thì có xấu, có tốt, và có liên hệ đến phần con đường đạo đức giới ở bài giáo lý một, như đã dẫn dắt ở phần trên.

Nghiệp là hành động, là việc làm, là sự tạo tác, của thân, miệng và ý. (karma)
Nghiệp xấu của thân gồm có: giết hại, trộm cắp, tà hạnh; của miệng gồm có: nói lờihai lưỡi, nói lời độc ác, lời thêu dệt và nói láo; của ý gồm có: tham, sân, hận, tà kiến.
Nghiệp lành thì trái ngược với các nghiệp kể trên, thí dụ như: phát khởi tâm từ, bố thí, chánh kiến, nói lời từ ái, không tà hạnh, không tham, v..v..

Nghiệp lực là sự dẫn dắt cúa nghiệp, nói theo từ ngữ thông thường, đó là thói quen.
(habitual force) Thí dụ: thói quen hút thuốc lá, đánh bạc, cãi lộn, chém mướn đâm thuê…
Nghiệp lực thấm từ từ trong đời sống của mình, mà ta có thể chiêm nghiệm được. Chẳng hạn như người có thói quen đánh bài mà cho đi chùa tụng kinh niệm Phật thì chắc là không muốn trở lại lần thứ hai, nhưng nếu cho đi sòng bài thì trở đi trở lại.

Định nghiệp có phải là định sẵn, an bài sẵn, không sửa đổi được chăng?
Trong Phật giáo, chúng ta là người tạo nghiệp, thì chúng ta là người sửa đổi nghiệp của mình. Quan niệm số phận và định nghiệp an bài sẵn là quan niệm sai với Phật giáo.
Muốn thay đổi nghịệp xấu, ta cần biết rằng có 3 yếu tố chi phối lẫn nhau:
  1. nghiệp, tức là sự thừa hưởng từ những hành động đã làm từ trước.
  2. nổ lực của bản thân, thí dụ sự siêng năng của bản thân là một nổ lực rất tốt, và sự tác động của bản thân đã tạo nghiệp mới.
  3. môi trường xung quanh, thí dụ môi trường chiến tranh là môi trường xấu.

Tâm từ là động cơ chính để phân biệt nghiệp hữu lậu và nghiệp vô lậu.
Nghiệp hữu lậu là nghiệp còn bị rơi rớt, còn bị ô nhiễm, được làm trên động cơ tham lam ích kỷ, cầu mong, cầu xin, nên vẫn còn trong vòng chi phối của vô thường.
Nghiệp vô lậu làm trên động cơ vô ngã, vị tha, với tâm từ, nên kết quả cuối cùng là giải phóng gốc rễ khổ đau.

Tóm lược các điểm chính trong Phật giáo như sau:

  • Muốn giải phóng gốc rễ khổ đau thì phải trồng nhân vô lậu,
  • Mình hoàn toàn trách nhiệm hành động của mình,
  • Làm việc gì cũng nên hợp với tâm từ,
  • Thể hiện tâm từ qua sự bố thí, ăn chay, lời nói từ bi.
  • Phát triển tâm từ qua sự tụng kinh, niệm phật, phát nguyện.

HỌC GIÁO LÝ BÀI BA:
PHÂN BI ỆT GIỮA CÕI THIÊN ĐÀNG, CỰC LẠC VÀ TỊNH ĐỘ

Thầy lại tiếp tục giảng về sự khác biệt giữa thiên đàng, cực lạc, và tịnh độ.

Nói đến thiên đàng là nói đến một nơi chốn vĩnh cửu.
Về chốn thiên đàng là về nơi chân Chúa, vĩnh viễn được ở bên Chúa.
Và mọi việc chấm dứt tại chốn thiên đàng. Ta không bao giờ thành Chúa.

Về miền cực lạc, tuy là nơi sung sướng, tốt đẹp, lâu dài, nhưng lại không phải là nơi vĩnh cửu. Cực lạc vẫn còn bị chi phối bởi sự vô thường, duyên sinh, vô ngã, nên còn gốc rễ của khổ đau. Đối đãi của cực lạc là cực khổ. Cực lạc có tốt đẹp là đối với cực khổ mà thôi. Không có cực khổ thì cực lạc trở thành vô nghĩa. Vì thế cho nên, Cực lạc chỉ là một môi trường tồt, một phương tiện thôi, chứ không phải là cứu cánh. Ta ở Cực lạc niệm
Phật A Di Đà để thành Phật A Di Đà.

Cứu cánh cuối cùng của ta là Tịnh Độ, là miền đất sạch. Ta phải chứng tâm giác ngộ mới thấy được đất sạch. Ta ở cõi Ta Bà mà tâm đã an tịnh thì cực lạc hay cực khổ không còn là vấn đề quan trọng. Lúc đó thì thế gian là cõi Tịnh Độ.

Phật giáo cần niềm tin (faith) lúc đầu, nhưng sang bước thứ hai, cần thực hành.
Tụng kinh, niệm phật, bố thí, ăn chay, lập nguyện, để giảm sự khổ đau, để thức tỉnh tâm, giúp ta thiền định, đều là những tiến trình giúp ta chứng tâm giác ngộ, để thấy đất sạch hay tịnh độ.

Vậy nên, làm việc gì thì nên làm hết sức mình, hết lòng của mình.
Hạnh phúc cuối cùng trong Phật gíáo là tự tại trong khổ đau.

SINH HOẠT VỚI THANH THIẾU NIÊN BẰNG ANH NGỮ

Theo thông lệ của mỗi khóa tu, Thầy Trụ Trì và các vị phụ tá đã dành hơn một tiếng đồng hồ sinh hoạt bằng Anh ngữ với các em thanh thiếu niên và một vài vị người ngoại quốc tham dự khoá tu. Đề tài thảo luận bao gồm: thế nào là Tam Bảo và lợi ích của sự quy y Tam Bảo. Các em, theo sự yêu cầu của Thầy Trụ Trì, phải giải thích và cho thí dụ về ý niệm “pháp” theo từng trình độ của mỗi em. Nhiều sự phát biểu của các em rất thực tế, ngộ nghĩnh và dễ thương. Các em được mang về các tài liệu bằng Anh ngữ để tự tìm hiểu thêm. Các vị người ngoại quốc cũng rất hăng hái tham dự và họ cảm t ạ phần giảng giáo lý bằng Anh ngữ đã giúp họ hiểu rõ thêm.

LỄ KHÁNH ĐẢN

Thầy Trụ Trì nói thêm với đại chúng là có một thiện duyên mới, xảy ra trong khóa tu này, mà sáu khóa tu trước không có, đó là chưa có khóa tu nào trùng vào mùa Phật Đản, có trăng rằm, và khóa tu này được điều vi diệu đó.

Tu Viện đã thành lập tức thì một Vườn Lâm Tì Ni, với bảy bông sen thị hiện bảy (7) bước chân của Đức Phật Đản Sanh. Ngày thứ nhì của khoá tu, Chư Tôn Đức và đại chúng được dự lễ Khánh Đản và lễ Tắm Phật. Sau bài tụng Mừng Khánh Đản và từng người một sắp hàng tắm Phật, Chư Tăng Ni và Phật tử cùng uống trà và ngắm vầng trăng tròn tháng tư âm lịch. Đây là một phước duyên có từ nhiều đời, vì chúng ta đã từng tắm Phật từ lâu xa, không phải chỉ mới một đời này. Lúc sắp cử hành lễ, trời có vẻ muốn mưa, nhưng rồi trời lại không mưa và không khí khá dễ chịu.

LỂ QUY Y TAM BẢO

Con về nương tưạ Phật, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuôc dời.
Buddha Saranam Gachami.
Con về nương tưạ Pháp, đạo của tình thương và sự hiểu biết.
Dharma Saranam Gachami.
Con về nương tưạ Tăng, đoàn thể cuả những người sống hoà hợp tỉnh thức.
Shangham Saranam Gachami.

Thầy Trụ Trì đã làm lễ Quy Y Tam Bảo và tuyên đọc Năm Giới cho sáu Phật tử và một
vị thứ bảy nhận Thầy là Y Chỉ Sư.
“ Mô Phật, con xin lãnh thọ”, đó là lời phát nguyện cuả các Phật tử thọ lễ quy y Tam Bảo, trước sự chứng kiến và chúc mừng của các bạn đồng dự khoá tu.

QUÁN HẠT SẠN TRONG BÁT CƠM

Thầy trụ trì, trong pháp thoại sau lễ Thù Ân buổi sáng khuyên rằng: “Nếu lúc ta đang ăn cơm, lỡ nhai trúng một hạt sạn trong miếng cơm, thì ta nên làm sao? Nên bỏ luôn bữa cơm, không ăn nữa, hay là chỉ lừa cục sạn ra rồi tiềp tục bữa cơm?”
Đức Thế Tôn đã dạy rằng nếu người học giáo lý của ta mà không hành thì người cũng như là kẻ đếm trâu bò, có đếm trâu bò, nhưng trâu bò của người khác, chứ không phải của người.

Vậy ta nên thực hành lời Phật dạy là:
  • Hãy buông bỏ, không chấp nhất, đừng bám víu,
  • Hãy nói năng, đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh pháp,
  • Hãy cư xử với nhau trong sự kính trọng và bình yên.

Về nơi đây tu học, hãy buông bỏ sự bôn ba. Chúng ta bôn ba cả đời rồi.
Ở nơi đây có lực gia trì của Tam Bảo và Chư Tôn Đức cho sự tu tập của đại chúng.
Về đây tu tập cần sự thanh thản. Nên thấy mọi việc là huyển hóa, hư dối và hư vọng.
Về đây tu tập nên học hạnh lắng nghe, lắng nghe bằng tâm. Nghe những điều khen và nghe cả những điều chê mà không phản ứng. Chỉ khi nào ta tu tập hạnh lắng nghe mà không phản ứng là khi ấy ta đã bắt đầu thực sự khơi nguồn cho tâm từ bi, sự hiểu biết và sự cảm thông.

“Về đi lữ khách đường xa vắng
Cát bụi sầu thương vướng đã nhiều
Thanh thản ngủ trong lòng đạo cả
Cho hồn thơ ấu được nâng niu.”

GIỜ SINH HOẠT LỬA TRẠI

Trong khóa tu ba ngày thường có một buổi tối sinh hoạt lửa trại để thắt chặt thêm tình thân và thư giản với những nụ cười “trong đêm thâu quanh ánh lửa hồng”. Nơi giờ phút này, già trẻ sát vai nhau, vừa là diễn viên, vừa là người xem trình diễn, chia xẻ những ánh mắt hoan hỉ, những trang vỗ tay cổ võ nhau. Một ch ương trình cống hiến liên tục các tiết mục văn nghệ thiền vị như ngâm thơ, ca hát, kể chuyện, và biễu diễn nhạc độc tấu.

Đến tham dự khóa tu ba ngày tại Cát Trắng, vợ chồng tôi cũng như tất cả mọi người đã cảm nhận được sự an bình và thăng hoa cho cuộc sống nội tâm. Xin cầu nguyện cho tất cả chúng ta ai cũng có cơ duyên được tắm mình thực thụ trong Giáo Pháp nhiệm mầu của Đức Như Lai Thế Tôn của chúng ta.