Kỷ Niệm
Khóa Tu Mùa Xuân 2008
Khóa
tu Mùa Xuân năm 2008 tại
Đạo Tràng Cát Trắng, cũng
là khóa tu lần thứ mười, đã diễn ra trong bốn ngày, vào hai
ngày cuối tháng
Hai và hai ngày đầu tháng Ba, năm
2008. Do nhiều duyên lành hội tụ: chánh
điện của Tu Viện Cát Trắng đã hoàn tất sau hơn hai năm
xây dựng, và
kỷ niệm ba năm thành
lập tu viện, cho nên trong khóa
tu này, đặc biệt có thêm hai
Đại Lễ: An Vị Phật và Trai
Đàn Chẩn Tế.
Do
những
nhân duyên đặc biệt
này, số lượng phật tử tại
địa phương cũng như từ các tiểu Bang
hành hương về Tu Viện tham dự khóa tu và
các buổi Đại Lễ
tăng nhiều hơn các
khóa tu trước. Tuy thế, ban tổ chức vẫn lo chu toàn việc sắp xếp chỗ nghỉ ngơi
và việc ẩm thực cho mọi người.
Thầy Tu Viện trưởng đã cung
thỉnh được chư Tôn
Đức về
Đạo Tràng Cát Trắng
để chứng minh và
hộ niệm, bao gồm:
Hòa
Thượng Thích Minh
Đạt, Viện chủ chùa Quang
Nghiêm, Stockton, California; Thượng
Tọa Thích Như Minh, Trú
Trì Chùa Việt Nam Los Angeles; Thượng Tọa Thích
Giải Minh, Viện chủ chùa Nhật Quang, Sacramento, California;
và hơn mười vị Thượng Tọa,
Đại Đức, đến từ các chùa
ở phương xa, như là:
Dallas, Nebraska, Alabama, San Jose,
Colorado, Los Angeles, v…v…vào ban Kinh
Sư của buổi Đại Lễ Trai Đàn Chẩn Tế.
Thầy
Tu Viện Trưởng, trong lễ khai
mạc, đã khuyến tấn
đại chúng rằng trở
về Đạo
Tràng Cát Trắng tu học
là một cơ hội
để quay về cuộc sống
nội tâm, để sống
cuộc
sống thực thụ của
chính mình. Hãy xem những
ngày tu học ở đây
là những ngày đại
chúng bước vào nhà
của Như Lai, cho nên, sự
đi đứng nằm ngồi,
phải thể hiện sự
cung kính, từ bi, hỷ, xả;
ăn uống trong chánh
niệm…
PHÁP
THOẠI CỦA HÒA THƯỢNG
CHỨNG MINH
Mỗi
lễ An Vị Phật đều
có nét đặc thù
riêng biệt và lễ Trai
Đàn Chẩn Tế cũng
thế. Tất cả các buổi
lễ đều
đòi hỏi một sự thanh
tịnh tuyệt đối. Gốc
gác của lễ Trai Đàn
Chẩn Tế là ở trong
kinh Nam Truyền (Nguyên Thủy) và
do long thiên hộ pháp mật
trì dẫn dắt gia hộ.
Tại
sao Đức Thế Tôn dùng
chữ Tế Đàn? Tại sao
chư Tổ dùng chữ Trai
Đàn?
Đó
là do sự tích Đức
Thế Tôn, do lòng đại
từ bi lân mẫn, đã
cứu sống đàn cừu
năm trăm con khỏi bị
thọc huyết tế thần, sau khi
Đức Thế Tôn thuyết
pháp cho đức vua nghe về
các
điều kiện cần phải
có cho một lễ tế
đàn. Đó là sự
thanh tịnh tuyệt đối
của ba
yếu tố quan trọng của
mỗi lễ tế: vị chủ
tế, đàn tràng tế
và lễ vật tế. Nếu
thiếu
sự thanh tịnh tuyệt
đối của một trong ba
yếu tố kể trên, hoặc
có sự đổ máu
giết
hại súc vật để
cúng tế cầu bằng an cho
người sống , thì buổi
Trai Đàn Chẩn Tế
không có khả năng giúp
các hương linh đã
quá vãng được
siêu thoát. Từ đó
trở
đi, chư Tổ đổi
chữ Tế Đàn thành Trai
Đàn, và chỉ cúng
thực phẩm chay thanh tịnh
trong các buổi Trai Đàn
Chẩn Tế…
…Năng
lực tu tập của
mỗi người chính là
sự bảo hộ cho chính
mình, cho gia đình và cho
đạo tràng tu
học. Phải phát nguyện tha
thiết và phải cần mẫn
với sự nghiệp tu tập
của mình,
vì tu cần thiết như hơi
thở, như cứu lửa cháy
trên chính đầu mình.
Nếu người
nào mở miệng ra thường
hay nói bậy, hay là
thường cảm thấy dễ
bị bực mình, chính
là vì người ấy
đã tích trử vô
số chủng tử chúng sanh
từ vô lượng kiếp,
đến nay
các chủng tử đó
trồi lên. Ta nên khai
“bankrupcy” ba yếu tố
độc trong người,
đó
là tham, sân và si, càng
sớm càng tốt. Còn cứ
khư khư ôm ấp lấy
cái giận trong
người là vô minh. Cũng
thế, trong các sự giao
tiếpvới người khác,
nên trách
mình trước, rồi hãy
trách người. Tại ta tệ
trước, nên người
bạc sau. Trách mình
trước thì ta lần lần
diệt được bản
ngã tham sân si của mình.
Chỉ cần ta biết sợ
luân hồi sanh tử là
đã biết dừng lại.
Có thực tập lời Phật
dạy mới biết là việc
thực hành Phật pháp
thật khó vô vàn.
Đức Thế Tôn đã
trao bản đồ tu tập,
nếu ta
đi mau thì tới mau, đi
chậm thì tới chậm, mà
ngồi lì thì không
đến. Tương tự
như thể nếu ta tự nấu
ăn cho mình, nấu ngon ăn ngon,
nấu dở ăn dở, mà
không nấu
thì nhịn đói không
có ăn.
ĐẠI
LỄ AN VỊ PHẬT VÀ LỄ
PHÓNG ĐĂNG
Đại lễ An
Vị Phật
được cử hành
lúc 8 giờ tối thứ sáu,
do Hòa Thượng Chứng Minh
Thích Minh Đạt làm
chủ lễ, cùng chư Tôn
Đức và tất cả
phật tử về đạo
tràng tu tập đồng tham
dự.
Trong bầu không khí thật trang
nghiêm, tất cả mọi
người đều chí
tâm quỳ lạy
Tôn Tượng Phật với
tâm thanh tịnh lắng
đọng và cầu nguyện cho
tất cả thập phương
pháp giới chúng sanh.
Sau buổi
lễ Hòa
Thượng Chứng Minh ban
đạo từ về ý
nghĩa lễ an vị Phật.
Chánh điện là
bảo điện,
trụ trì là bảo trì.
Không thể nào thiếu đi
sự thanh tịnh tuyệt
đối. Phật tử cần
nên tiếp tay với quý
Thầy vận chuyển bánh xe
chánh pháp, và đó
cũng là bảo vệ
sự tu tập hay là nguồn
hạnh phúc của chính
mình.
Còn nói về
lễ An Vị
Phật, có đa phần nghĩ
rằng mới chỉ có sau
này, có lẽ vì chúng ta
cách xa Đức Thế
Tôn quá xa. Thật ra, lễ An
Vị Phật đã có
từ lúc Phật còn tại
thế. An vị có
nghĩa là mời vị cung
kính nhất, ngồi vào chỗ
cung kính nhất. Đức
Phật khi còn
tại thế, ngài đi chân
đất, y bát sơ sài,
đến khất thực tại
nhà một thí chủ nào,
thì tại đây có
lễ an vị Phật. Nghĩa
là, trước khi Thế Tôn
bước vào cửa chính,
thì ngay tại cửa luôn có
một ghè nước và
có một người ngồi
sẵn để rửa và lau
chân cho Thế Tôn. Sau đó,
vị chủ nhà mời Thế
Tôn an vị vào chỗ ngồi
cao quý
nhất trong nhà. Đức Thế
Tôn thường ngồi xây
mặt ra cửa chính, còn
các chư Tăng
và cư sĩ thì ngồi
xây lưng ra cửa và xây
mặt hướng vào Thế
Tôn. Kế đến, chư
Tăng và cư sĩ
đảnh lễ Thế Tôn ba
lễ. Mỗi lễ, có năm
phần trong cơ thể phải
chấm
đất, đó là,
mặt, hai bàn tay và hai chân. Sau
lễ, nếu được
để đầu của
mình lên trên
hai bàn chân của Thế
Tôn, để càng lâu
càng có phước. Sau
đó, Thế Tôn ban pháp
thoại, có thể dài ngắn
không chừng. Nghi thức an vị
này theo thời gian có biến
đổi nhưng nội dung không
thay đổi.
Trước lễ An
Vị Phật là buổi
lễ Phóng Đăng cúng
dường Tam Bảo vào buổi
tối cùng ngày. Ban tổ
chức đã làm các
đèn hoa đăng trong
đó có thắp nến,
để Chư Tôn Đức
Tăng Ni và toàn thể phật
tử,
sau lễ cầu nguyện, đã
thả xuống hồ nước
trước chánh điện.
Nhìn hồ nước lung
linh phản chiếu ánh nến,
trôi nhẹ nhàng từ từ,
tựa như chúng sanh trôi
lăn lặn
hụp trong sinh tử, chợt thấy
lòng rưng rưng. Thương
người, thương mình,
chỉ
biết chí tâm cầu nguyện
để ai ai cũng đạt
được sự tự
tại trong pháp sinh tử và
sự an nhiên trong phiền não.
ĐẠI
LỄ TRAI ĐÀN CHẨN TẾ
Đại
Lễ Trai Đàn Chẩn
Tế được cử
hành vào lúc 2 giờ chiều
ngày hôm sau, ngày Thứ
Bảy, và kéo dài cho
đến hơn 7 giờ tối
cùng ngày. Buổi lễ rất
trang nghiêm và hoàn mãn.
Sự chuẩn bị cho
buổi
lễ từ vài tuần
trước cũng rất trang
nghiêm và thanh tịnh. Thầy
Trụ Trì giải thích
rằng các bàn thờ
trong đàn tràng
được
thiết kế theo nghi thức kinh
điễn. Các bàn thờ
được đóng bằng
gỗ và đinh mới,
phủ vải màu vàng. Trên
bàn thờ có một
tượng Phật và có
hương hoa đăng quả, tuy
đơn giản nhưng rất trang
nghiêm, biểu tượng cho
đồ hình Mandala.
Trong chánh điện, 5
bàn thờ Phật
được sắp theo
đồ hình mạn đà
la, gồm bàn thờ Đức
Phật Tỳ Lô Giá Na
ở trung ương, và bốn
bàn thờ các vị Phật
ở bốn hướng,
đông, tây, nam và bắc.
Cũng ngay giữa chánh
điện có một kiệu
gỗ là nơi của vị
Sám Chủ. Vị Sám Chủ
hành
trì miên mật các ấn
chú khi triệu thỉnh các vong linh
về nghe kinh và thọ nhận
thức ăn đã
được chú nguyện. Ngay
trước mặt kiệu là
một bàn kinh sư, nơi
đây,
sáu vị Tôn Đức
cũng nương nhờ từ bi
lực của chư Phật, ngồi
tụng kinh, trì chú
và triệu thỉnh các
hương linh xuyên suốt cả
buổi lễ.
Bước
ra cửa chánh điện,
nơi đây có một
bàn dài, kiểu bàn
thượng và bàn hạ,
được đóng chồng
lên nhau một
phần . Trên bàn thượng,
phiá trước có tôn
tượng của Đức
Bồ Tát Địa Tạng
Vương,
và phía sau có hình Ông
Tiêu và hai vị đại
tướng. Trên bàn hạ
là nơi sắp dọn
thức ăn, xôi, chè, bánh,
kẹo, cơm, canh, bát cháo
trắng cúng hương linh cô
hồn.
Từng câu
xướng“nhất
tâm triệu thỉnh”, do
vị sám chủ và chư
tăng trong ban kinh sư, thành kính
và
chân thành tụng lên, gởi
đến thập loại cô
hồn chúng sanh. Từng lạy
một, người
lạy cảm nhận thắm thía
được sự vô
thường và đau
thương của đời,
lạy từ trong
thâm tâm sâu thẳm, lạy
thay chúng sanh, lạy mãi mà
vẫn chưa vơi thổn thức.
Từng
giọt nước mắt chảy
dài trên má, thương
người đã bước
qua cửa sanh tử mà vẫn
chưa siêu thoát, lại nghĩ
đến thân mình không
biết khi vô thường
đến gọi, rồi
sẽ trôi lăn đi
đâu?
THAY LỜI
KẾT
Mỗi lần
về tu viện tu
tập là thấy tâm thức
mình có thay đổi, có
sự biến chuyển. Sự thay
đổi đó gọi là
tu sửa, là
chuyển hóa. Sự chuyển
hóa đó phải từ trong
tâm phát ra. Tuy nhiên, nếu
không có
đạo tràng ở bên
ngoài với thầy và bạn
góp sức, thì sự chuyển
hóa sẽ có thể
không có sức mạnh. Cho
nên, nương hoàn cảnh
bên ngoài, để chuyển
hóa tâm bên
trong, đó là các
phương tiện thiện xảo
mà người phật tử
có thể xử dụng trên con
đường tu tập của
mình. Sự tu tập tạo
sức mạnh tâm linh, là
hải đảo tự thân,
là
trang nghiêm quốc độ
của từng người.
Nguyện hồi
hướng công đức cho
tất cả chúng sinh
được siêu sinh tịnh
độ, được
sự tự tại trong sinh tử,
được chuyển hóa
nghiệp chướng và rốt
ráo đều trọn
thành Phật đạo.
Lê
Phúc và Lưu
Kim Chi
|