|
|
|
|
Hiện Pháp Lạc TrúKhải Thiên
Bạn
thân mến, Bạn
đã được giới
thiệu về
“phương châm tu
tập”, “ý nghĩa
của Sám hối”, và
“tâm Bồ đề”.
Đó chính là những
hành trang cần thiết, quan trọng
để xây dựng những
nhận thức căn bản và
thực
tiễn cho cuộc sống hạnh
phúc cũng như cho cuộc
hành trình tâm linh của
bạn. Khi
đã có đầy
đủ những hành trang cần
thiết cho tư duy và hành
động rồi, bây giờ
là
lúc bạn có thể đi
vào thực tập những pháp
môn căn bản không phải
để có ý niệm
về hạnh phúc hay để
lí luận về hạnh phúc,
mà để “sống
hạnh phúc” ngay bây giờ
và ở đây. Một trong
những pháp môn
được giới thiệu
ở đây là “Hiện
pháp lạc trú”,
một pháp môn thiền
định căn bản đã
được Đức Phật
dạy, và chính bản thân
Ngài
cũng như các vị Thánh
đệ tử cũng thực
hành pháp môn này. Những
giới thiệu sau
đây sẽ giúp bạn
hiểu biết thêm phương
pháp thực tập pháp môn
này. 1.
Ý
Nghĩa Hiện Pháp Lạc Trú: Hiện pháp
lạc trú là một pháp
môn thiền tập căn bản
được
Đức Phật dạy trong các
kinh thuộc về thiền
định[i]. Kinh Samiddhi
tường thuật một câu
chuyện về một vị tăng
sỹ trẻ tu tập hiện
pháp lạc trú, đại
khái như vầy: Một thời
Thế Tôn ở Vương
Xá tại Tapodārāma (Tịnh
xá Suối
Nước Nóng). Có một
Thầy tên là Samiddhi, vào
lúc bình minh, thức dậy
và đi đến
suối nước nóng
để tắm gội. Sau khi
tắm gội, Thầy ra khỏi
suối nước nóng,
đứng
để phơi mình cho khô
rồi mặt áo vào. Lúc
bấy giờ, có một vị
Thiên nữ với dung
sắc thù thắng, chói sáng
toàn vùng suối nước
nóng, nói với Thầy Samiddhi
rằng: - “Thầy
là một người mới
xuất gia, tuổi còn trẻ,
tóc còn
xanh, đáng lý phải xông
ướp hương thơm, trang
điểm châu báu mà
thụ hưởng thú
vui ở đời, sao thì thầy
lại bỏ những người
thân, quay lưng lại với
cuộc sống
thế tục, cạo bỏ râu
tóc, khoác áo cà sa, tin
tưởng vào con
đường xuất gia học
đạo. Tại sao lại bỏ
cái lạc thú hiện tại
mà đi tìm cái lạc
thú phi thời như
thế?” - Thầy Samiddhi
trả lời với Thiên nữ: - “Tôi
đâu có bỏ cái
lạc thú hiện tại mà
đi tìm cái lạc thú
phi thời? Chính tôi đã
bỏ cái lạc thú phi thời
để tìm đến cái
lạc thú chân thật
trong hiện tại!” Đức
Thế Tôn có dạy: “Trong
cái vui phi thời của ái
dục, vị
ngọt rất ít mà chất cay
đắng rất nhiều, cái
hưởng thụ rất nhỏ
mà tai họa rất
lớn. Tôi giờ này đang an
trú trong hiện pháp, lìa
bỏ được những
ngọn lửa phiền
não đốt cháy. Hiện
pháp này vượt ngoài
thời gian, đến để
mà thấy, tự mình chứng
ngộ, tự mình có thể
giác tri. Này thiên nữ,
đó gọi là bỏ
cái lạc thú phi thời
để đạt tới cái
lạc thú chân thực trong
hiện tại.” - Thiên nữ
lại hỏi Thầy Samiddhi: “Tại
sao Đức Thế Tôn
lại nói trong cái vui phi thời
của ái dục vị ngọt
rất ít mà chất cay
đắng rất
nhiều, cái hưởng thụ
rất nhỏ mà mà tai họa
rất lớn? Tại sao Đức
Thế Tôn lại nói
an trú trong hiện pháp là
lìa bỏ được
những ngọn lửa phiền
não đốt cháy,
vượt
ngoài thời gian, đến
để mà thấy, tự
mình chứng ngộ, tự mình
có thể giác tri?” - Thầy Samiddhi
trả lời: - “Tôi
mới xuất gia, không đủ
sức giải thích rộng rãi
những
giáo pháp mà Đức
Thế Tôn dạy. Hiện tại
Đức Thế Tôn đang
cư ngụ gần đây,
nơi
rừng tre Ca Lan Đà, Thiên
nữ có thể đến
với Người để
trình bày những nghi vấn
của mình. Đức Như Lai
sẽ dạy cho Thiên nữ
chánh pháp để tùy nghi
thọ trì.”…[ii] Qua
đoạn trích dẫn ở
trên,
như bạn thấy, Kinh Samiddhi
giới
thiệu một chủ đề
rất quan trọng về con
đường tu tập thực
tiễn. Ở đây, chúng ta
chỉ giới hạn trong phạm vi
của “hiện pháp lạc
trú”. Nói một cách
ngắn gọn, hiện
pháp lạc trú có nghĩa
là “an trú trong các pháp
của hiện tại”,
“sống an lạc
trong từng khoảnh khắc của
hiện tại”, hay “sống
tỉnh thức an lạc bây
giờ và ở
đây”. Tuy nhiên,
“hiện tại” trong
“hiện pháp lạc
trú” được hiểu
là cái “thực
tại-hiện tiền”, vượt
ngoài thời gian,
chứ không phải là cái
“hiện tại” trong mối
liên hệ của thời gian
giữa quá khứ
và tương lai. Do đó, an
trú trong các pháp hiện
tại chính là an trú trong
thực
tại, bây giờ và ở
đây—being in the present. Trong
cụm từ “hiện pháp
lạc
trú”, trú
hay an trú là
một yếu tố quan trọng
nhấn mạnh đến sự
tỉnh thức, vì nếu
không có tỉnh thức thì
bạn không thể nào an
trú trong thực tại
được. Chữ trú
ở đây có nghĩa
là “sống trong chánh
niệm, tỉnh giác”. Phải
có chánh niệm, tỉnh
giác thì bạn mới có
thể thực hành pháp môn
“hiện pháp lạc
trú”. Đấy là ý
nghĩa
mà kinh bảo rằng “Hiện
pháp này vượt ngoài
thời
gian, đến để mà
thấy, tự mình chứng
ngộ, tự mình có thể
giác tri.”
Nói khác đi, đấy
chính là
nguyên lí cơ bản của
đời sống thực tại,
một đời sống mà
mỗi người “phải
tự mình chứng ngộ cho
chính mình”.
Vì trên con đường tu
tập—an trú trong hiện
tại, bạn phải là
người “tự mình
chứng ngộ cho chính
mình” và “tự
mình biết lấy”, không
ai khác có thể làm cho
bạn được chứng
ngộ. Đấy chính là
đời sống kinh nghiệm
đặc thù của thiền. Hãy
lấy một thí dụ: khi
bạn
ăn cơm, có nghĩa là
bạn đang thưởng thức
hương vị của thức
ăn, nhưng trong lúc
ăn, tâm của bạn vẫn
tiếp tục chạy theo, hoặc
bị cuốn hút vào những
suy nghĩ hay
mơ tưởng về một
cái gì đó (tiền
bạc, nhà cửa, công
việc, con cái…) nên bạn
không còn để tâm
đến sự thưởng
thức hương vị của
thức ăn nữa. Điều
này được gọi
là thất niệm, không có
sự an trú
trong lúc ăn; có nghĩa là
miệng thì ăn cơm, nhưng
tâm thì ăn vọng
tưởng! Khi
nào bao tử của bạn
không còn tiếp thọ thức
ăn được nữa,
thì bạn cho rằng đã no,
thế thôi! Và như thế,
bữa ăn quả thực là
nhạt nhẽo, vì bạn
đã không tỉnh thức
trong lúc ăn hay nói khác
hơn là bạn đã
đánh mất cái khả
năng thưởng thức
hương
vị của thức ăn vì
tâm của bạn đã
mãi miết sa đà trong
vọng tưởng! Khổng Tử
cũng nói rằng: “Tâm
bất
tại yên, thị nhi bất
kiến, thinh nhi bất văn, thực
nhi bất tri kỳ vị.”
Nghĩa
là, khi tâm không an
định, thì nhìn mà
không thấy, nghe mà không hay,
ăn mà
không biết mùi vị. Nhưng
trái lại, khi ăn trong chánh
niệm, tỉnh giác, thì
chính bạn
là người duy nhất biết
rõ hương vị của
thức ăn như thế nào,
vì bạn là người
trực tiếp thưởng thức
hương vị của thức
ăn. Đấy là ý
nghĩa “tự
mình chứng ngộ cho chính
mình và tự mình
biết lấy!” Do vậy, an
trú trong hiện tại là
một pháp môn kỳ diệu
giúp chúng
ta có thể sống hạnh
phúc và tiếp xúc với
cuộc thực tại nhiệm
mầu ngay bây giờ
và ở đây. Tuy
nhiên, bạn nên nhớ
rằng,
khi thực tập pháp môn
này, bạn không thể nuôi
dưỡng ý niệm rằng
“thôi kệ, bây
giờ mình ráng tu tập
pháp môn này để mai sau
sẽ được an lạc,
hạnh phúc!” Nếu
suy nghĩ như thế thì bạn
có thực tập thêm
mười năm hay hai mươi
năm nữa bạn vẫn
không có an lạc, hạnh
phúc, vì hiện pháp lạc
trú không phải là một
thứ hạnh
phúc hứa hẹn của mai sau
nào hết. Trái lại, khi
thực tập hiện pháp lạc
trú, có
nghĩa là bạn phải sống
tỉnh giác, an lạc ngay trong
từng hơi thở, từng
bước đi,
từng hành động của
mình; tất nhiên sự an
lạc sẽ tùy thuộc vào
mức độ tỉnh thức
của bạn. Nếu khi thực
tập pháp môn này mà
bạn không có an lạc,
hạnh phúc ngay
trong lúc đang thực tập,
như thế là bạn thực
tập không đúng. Phải
có sự an lạc
tỉnh giác trong từng hơi
thở của bạn thì mới
gọi là hiện pháp lạc
trú. Vì vậy,
hiện pháp lạc trú không
phải là một hình thức
“niệm Phật cầu nguyện
thật nhiều
để mai mốt chết sẽ
được vãng sinh về
thế giới cực lạc”,
mà trái lại bạn phải
sống tỉnh thức, sống
trọn vẹn, và sống an
lạc, hạnh phúc ngay trong từng
giây
phút của hiện tại. 2.
Bạn Đang Sống Như Thế Nào? Một
câu hỏi như thế có
thể
được đặt ra
đối với cuộc sống
thực tế của chúng ta.
Thử xem, ngoài những giấc
ngủ thật sâu, không có
mộng mị, bạn đã
sống như thế nào? Bạn
đã dành bao nhiêu
thời gian để sống với
hiện tại, tức là sống
một cách trọn vẹn với
tất cả sự hiện hữu
của mình trong từng giây,
từng phút? Vâng,
rõ ràng thực tế chúng ta
đã đánh mất quá
nhiều cuộc sống đích
thực của mình trong vọng
tưởng điên đảo,
trong buồn, giận,
thương, ghét, trong lo âu, toan
tính, trong sân hận, thù
oán, trong nuối tiếc
quá khứ, trong ước vọng
tương lai…và ngay cả
trong giờ phút hiện tại
này, sự
phập phồng trong được,
mất, hơn thua, hy vọng và
sợ hãi vẫn chiếm lĩnh
một cách
thường trực trong đời
sống của chúng ta. Biết bao
nhiêu phiền não cứ
quyện theo
từng mỗi niệm trôi lăn
trong tâm hồn, ngay cả khi mình
đối diện với chính
mình.
Tương tự như thế, trong
cái mà chúng ta gọi là
hạnh phúc của tình yêu,
tiền
tài, danh vọng, quyền lực,
địa vị… có cái
nào mà không chất chứa
hay che dấu
bên trong chính nó những
nỗi lo âu, toan tính, hy vọng
và sợ hãi? Thật
vậy, đời sống của
chúng
ta và ngay cả đến cái
mà chúng ta cho là hạnh
phúc trong thế giới của
dục vọng,
bản chất của nó, như Kinh Samiddhi nói,
quả thực là “vị
ngọt rất ít mà chất cay
đắng rất nhiều, cái
hưởng thụ
rất nhỏ mà tai họa rất
lớn.”
Hãy lấy một thí dụ:
bạn thử
xem rằng mình đã mất bao
nhiêu công sức và sinh
lực để có
được một tình
yêu như
ý, một danh vọng như ý,
một tài sản như
ý…và rằng bạn
thực sự đã sống
với cái
“như ý” đó
như thế nào? Rõ ràng, khi
nhìn lại như thế, chúng
ta không thể nào
che dấu được sự
phiền muộn và cay đắng
trong cuộc đời của mình
mà phần lớn vốn
đã bị chiếm
đoạt bởi vọng
tưởng hoặc nuối tiếc
quá khứ hoặc ước
vọng tương lai.
Đấy là chưa kể
đến cái dục
tưởng, ái
tưởng… của giòng
tâm thức hiện tại nó
thiêu đốt chúng ta trong
những cơn khao khát, thèm
muốn các dục. Vì lí do
này,
để thoát ly mọi phiền
não, vọng tưởng và
để đạt đến
sự an trú vững chắc trong
cái hạnh phúc-thực tại,
Đức Phật, trong kinh Người
Biết Sống Một Mình,
đã dạy: Quá
khứ không truy tìm Tương
lai không ước vọng. Quá
khứ đã đoạn
tận, Tương
lai lại chưa đến, Chỉ
có pháp hiện tại Tuệ
quán chính ở
đây… Khi đọc
một đoạn kinh ngắn này,
bạn có thể sẽ vội
vã cho rằng, “quá khứ
không truy tìm” là
điều dễ hiểu và
dễ
chấp nhận, nhưng
“tương lai không
ước vọng” thì
quả thật là khó hiểu
và khó
chấp nhận; vì bạn nghĩ
rằng nếu sống mà không
nuôi dưỡng những
ước vọng tương
lai thì cuộc sống sẽ ra
làm sao đây? Vâng, khi
đặt câu hỏi như
thế có nghĩa là
cái tập khí tham ái và
chấp thủ đã trỗi
dậy trong tâm của bạn,
nó bắt đầu lấn
át
cái thiện niệm hướng
đến sự an trú của
bạn! Ở đây,
trước hết bạn nên
ý thức rõ
rằng, chúng ta đang học
pháp môn hiện pháp lạc
trú với mục đích
là để có thể an
trú trong hiện tại, để
xa rời mọi cuồng si, mộng
tưởng, và để
sống hạnh phúc
ngay bây giờ và ở
đây, chứ chúng ta không
bàn đến chuyện
“từ bỏ” một
dự án hay
một hoạch định nào.
Bạn không nên lẫn lộn
điều này! Trên thực
tế, từ bỏ cái thói
quen nghĩ ngợi về quá
khứ và mộng tưởng
về tương lai quả thực
không dễ dàng
chút nào đối với
một tâm thức đang còn
xao động. Cái chướng
ngại lớn lao mà nó
luôn khuấy động sự an
trú trong hiện tại cũng
như lấn át nguồn năng
lượng chánh
niệm, tỉnh giác của
bạn chính là sự tham ái
và chấp thủ vào một
quá khứ đã qua
hay một tương lai chưa
đến, cùng với cái
bản ngã to tướng choáng
hết chỗ trong
tâm thức của bạn. Bao
lâu bạn còn mãi mê
hân hoan với những kí
ức dĩ vãng, hoặc
trôi lăn theo những khát
vọng tương lai, thì bấy
lâu bạn vẫn phải thăng
trầm
trong thế giới của mộng
tưởng hão huyền! Và
như thế, rốt cuộc thì
chính bạn là
người đánh mất
“cuộc sống thực
thụ” của mình! Do vậy,
để bạn có thể sống
và sống hạnh phúc
cuộc đời của mình, an
trú trong hiện tại là
một pháp
môn rất bổ ích và
thiết thực. Đấy là
một con đường mà
Đức Phật gọi là
“Tuệ
quán”, tức là sống,
an trú trong hiện tại với
chánh niệm, tỉnh giác. 3. Chánh Niệm
Là Gì? Chánh niệm
là cốt tủy của mọi
pháp môn tu tập trong
đạo Phật, không phân
biệt tông phái truyền
thống hay phát
triển. Một cách căn
bản, chánh niệm là năng
lực tỉnh giác và nhận
biết
một cách rõ ràng những
gì sinh khởi và
đoạn diệt trong tâm
thức của bạn
cũng như những gì đang
hiện hữu trong con người
của bạn. Do vậy, khi thực
tập
chánh niệm, thân và tâm
của bạn sẽ luôn luôn
hợp nhất, thân ở
đâu thì tâm ở
đó.
Nếu thân một nơi tâm
một ngã có nghĩa là
bạn mất chánh niệm, hay
còn gọi là
thất niệm, vọng tưởng.
Ví dụ: khi bạn ngồi ở
nhà mà tâm của bạn
thì lang thang
ngoài đường, như
thế là không có chánh
niệm, và bạn đang sống
với mộng tưởng!
Nhờ vào sự hợp nhất
của thân tâm trong khi giữ
chánh niệm mà bạn không
bị trôi
dạt theo vọng tưởng
hoặc quá khứ hoặc
tương lai. Và bấy giờ
bạn sẽ có khả năng
an trú trong hiện tại và
nhận diện được
những gì đang sinh khởi
và đoạn diệt
trong thân-tâm (đời sống
toàn diện) của bạn.
Nếu bạn không thể nhận
diện (giác
tỉnh) được sự sinh
khởi và đoạn diệt
của từng vọng niệm,
bạn sẽ bị trôi lăn
theo nó. Chẳng hạn như khi
mới ngồi thiền, vài
giây đầu bạn có
thể giữ chánh
niệm, tỉnh giác, nghĩa
là bạn biết rõ những
gì đang diễn ra (sinh khởi
và đoạn
diệt) trong tâm của bạn; do
tỉnh giác, bạn biết là
mình đang ngồi thiền nên
bạn
trở lại tiếp tục nhất
tâm, không chạy theo các
vọng tưởng nữa. Nhưng
ngồi một
lúc thì các vọng niệm,
mộng tưởng lại khởi
lên, và do không tỉnh
giác nên bạn
đi theo các mộng tưởng
đó mãi cho đến khi (nghe
chuông hay một tiếng gì
đó)
giật mình mới biết là
mình đã bị thất
niệm. Tuy nhiên, nếu ngay hoặc
sau khi
vọng niệm khởi lên,
bạn tỉnh giác
được, tiếp tục
giữ chánh niệm thì vọng
tưởng
sẽ tiêu tan ngay. Cho đến khi
nào bạn đã an trú
một cách vững chải trong
từng
giây phút của hiện tại,
bạn sẽ có khả năng
điều chế những năng
lực tuệ giác để
nhận diện một cách sâu
sắc sự sống mầu nhiệm
đang có mặt, hay nói khác
hơn
chính bạn sẽ hòa nhập
một cách toàn diện vào
đời sống thực tại. Tuy nhiên,
để có chánh niệm,
bạn
cần phải nỗ lực thực
tập theo nhiều cách khác nhau.
Chẳng hạn khi ăn, bạn
hãy
nhai từ từ và thưởng
thức hương vị của
thức ăn, hãy ăn với
tất cả sự hỷ lạc
của
mình, đừng để
những suy nghĩ khác (lo âu, toan
tính, buồn bực…) len
lỏi vào tâm
thức trong giờ ăn của
bạn. Do đó, bạn cần
thực tập giữ chánh
niệm, tỉnh giác
không những trong khi thiền tập
mà ngay cả khi ăn, uống,
làm việc, nghỉ
ngơi…bạn cần chú
tâm trọn vẹn vào công
việc mà mình đang làm,
mọi lúc, mọi nơi.
Điều quan trọng mà bạn
nên cố gắng thực tập
hàng ngày đó là
luôn tỉnh giác
và nhận biết
sự sinh khởi và đoạn
diệt của từng ý niệm,
từng cảm thọ
của bạn khi thiền tập
cũng như khi làm việc
bình thường. 4. Hởi Thở
Nhiệm Mầu: Trong kinh Quán
Niệm
Hơi Thở, Đức
Phật dạy chúng ta thực
tập giữ chánh niệm
bằng cách an trú
theo hơi thở của mình;
vì trong những lúc thiền
tập hay an tịnh, các căn
(giác
quan) tạm “dừng nghỉ”
chỉ có hơi thở vô/ra
hiện hữu cùng với sự
hiện diện của
bạn. Trong kinh nghiệm thực tế
của thiền, hơi thở
được xem như là
sợi dây vô
hình dùng để cột
cái tâm của bạn, giữ
nó trú lại ở thân,
không để nó phóng ra
ngoài hay chạy theo các
đối tượng của
ý thức. Khi chú tâm theo
dõi hơi thở có
nghĩa là bạn đã
hợp nhất thân và tâm
trên sự lưu hành vô/ra
của hơi thở. Đức
Thế Tôn dạy rằng:
“Ở đây, này các
Tỳ kheo, Tỳ kheo đi đến
khu rừng, đi đến gốc
cây, hay đi đến ngôi
nhà trống, và ngồi
kiết-già, lưng thẳng và
trú niệm (để
tâm) trước mặt. Chánh
niệm, vị ấy thở vô;
chánh niệm, vị ấy thở
ra…” (Kinh Quán
Niệm Hơi Thở) Và
Ngài đã tuần
tự dạy rõ bốn niệm
xứ (thân thể, cảm thọ,
tâm, và pháp) để
bạn có thể thực tập
theo từng bước. Bốn
niệm xứ được
trình bày theo mười sáu
đề mục dưới
đây:
· Thở vô ngắn, tôi biết: “Tôi thở vô ngắn”. Thở ra ngắn, tôi biết: “Tôi thở ra ngắn”. · “Cảm giác toàn thân, tôi thở vô”—“Cảm giác cả toàn thân, tôi thở ra”. · “An tịnh thân hành, tôi thở vô”—An tịnh thân hành, tôi thở ra”. · “Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô”—“Cảm giác hỷ thọ, tôi thở ra”. · “Cảm giác lạc thọ, tôi thở vô”—“Cảm giác lạc thọ, tôi thở ra”. · “Cảm giác tâm hành, tôi thở vô”—“Cảm giác tâm hành, tôi thở ra”. · “An tịnh tâm hành, tôi thở vô”—“An tịnh tâm hành, tôi thở ra”. · “Cảm giác về tâm, tôi thở vô”—“Cảm giác về tâm, tôi thở ra”. · “Với tâm hân hoan, tôi thở vô”—“Với tâm hân hoan, tôi thở ra”. · “Với tâm định tĩnh, tôi thở vô”—“Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”. · “Với tâm giải thoát, tôi thở vô”—“Với tâm giải thoát, tôi thở ra”. · “Quán vô thường, tôi thở vô”—“Quán vô thường, tôi thở ra”. · “Quán ly tham, tôi thở vô”—“Quán ly tham, tôi thở ra”. · “Quán đoạn diệt, tôi thở vô”—“Quán đoạn diệt, tôi thở ra”. · “Quán từ bỏ, tôi thở vô”—“Quán từ bỏ, tôi thở ra”. 5. Thiền Tập: Trên thực tế, khi thực tập pháp môn này, bạn cần có Thầy hướng dẫn cụ thể để tránh những lầm lẫn không tốt. Nếu ở nhà, bạn có thể tìm một nơi yên tịnh, thoáng mát hay ngay trong phòng riêng của mình để thực tập theo các bước sau: Ngồi lên bồ đoàn (gối lót để ngồi, cao khoảng một gang tay), nhớ ngồi thẳng lưng, xếp hai chân theo thế hoa sen (kiết già hoặc bán già, hoặc bạn cũng có thể ngồi trên ghế thả hai chân xuống như bình thường, nhưng lưng phải thẳng), hai tay xếp bằng để tựa dưới bụng. Ngồi một cách thật thoải mái, thư thái, không cố gồng mình, không cố nén hơi thở, cứ để hơi thở tự nhiên. Điều quan trọng là bạn phải cảm nhận được sự an lạc, thảnh thơi, nhẹ nhàng, vững chải trong tư thế ngồi của bạn trước khi bạn có thể bắt đầu thầm theo dõi (hay niệm) hơi thở vô/ra của mình theo từng đề mục ở trên. Bạn cần thực tập cho nhuần nhuyễn từng đề mục chứ không nên vội vã; đặc biệt là, trong suốt thời gian hành thiền, bạn phải luôn luôn giữ chánh niệm, tỉnh giác (xem lại phần số 3). Trong lúc thiền mà thất niệm, bạn có thể quay lại từ đầu. Bạn có thể chia mười sáu đề mục này thành bốn niệm xứ và thực tập từng phần cho nhuần nhuyễn như sau: Thân niệm xứ:
· Tôi thở vô ngắn / ra ngắn = vô ngắn / ra ngắn · Cảm giác toàn thân, tôi thở vô / ra = toàn thân vô / ra · An tịnh thân hành, tôi thở vô / ra = thân hành vô / ra Thọ niệm xứ: · Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô / ra = hỷ thọ vô / ra · Cảm giác lạc thọ, tôi thở vô / ra = lạc thọ vô / ra · Cảm giác tâm hành, tôi thở vô / ra = tâm hành vô / ra · An tịnh tâm hành, tôi thở vô / ra = tâm hành vô / ra Tâm niệm xứ: · Cảm giác về tâm, tôi thở vô / ra = tâm vô / ra · Với tâm hân hoan, tôi thở vô / ra = tâm hân hoan vô / ra · Với tâm định tĩnh, tôi thở vô / ra = tâm định tỉnh vô / ra · Với tâm giải thoát, tôi thở vô / ra = tâm giải thoát vô / ra Pháp niệm xứ: · Quán vô thường, tôi thở vô / ra = vô thường vô / ra · Quán ly tham, tôi thở vô / ra = ly tham vô / ra · Quán đoạn diệt, tôi thở vô / ra = đoạn diệt vô / ra · Quán từ bỏ, tôi thở vô / ra = từ bỏ vô / ra Trong lúc thiền, bất kỳ một ảnh tượng nào xuất hiện trong tâm của bạn đều là ảo giác. Khi biết như vậy, không bám vào nó, tiếp tục trú vào hơi thở, giữ chánh niệm, tỉnh giác, thì cái ảo giác đó sẽ tan biến ngay. Bạn không nhất thiết phải ngồi lâu, tùy vào khả năng của bạn rồi từ từ tăng lên, nhưng ít nhất phải được mười hay mười lăm phút, nếu bạn mới thực tập. Điều cốt yếu của ngồi thiền là làm cho thân-tâm hợp nhất trong sự an tịnh của chánh niệm, tỉnh giác. Nên nhớ rằng, ngồi thiền không phải để “phóng hào quang” mà là để tâm được an tịnh. Khi tâm an tịnh rồi thì tuệ giác sẽ phát sinh một cách tự nhiên. Bên cạnh việc ngồi thiền, bạn có thể thực tập đi thiền (thiền hành) và nằm thiền. Nói chung, trong các thao tác đi, đứng, nằm, ngồi bạn đều có thể ứng dụng pháp môn hiện tại lạc trú và thực hành sống chánh niệm, tỉnh giác. Bao
giờ cũng vậy, bạn nên
bắt
đầu nhiếp tâm bằng
hơi thở. Khi có sân hận
nổi lên, bạn cũng nhiếp
phục nó bằng
hơi thở. Khi có những
cảm giác bầt an, bạn
cũng nên trú vào hơi
thở, vì thông
qua hơi thở bạn có thể
điều phục được
cả tâm và thân. Thực
tế cho thấy rằng, bất
kỳ ai bỏ bạn ra đi,
bạn vẫn sống,
nhưng nếu hơi thở bỏ
bạn ra đi, thì cuộc
sống của bạn sẽ kết
thúc. Do vậy, hơi
thở luôn hiện hữu cùng
với bạn trong mọi hoàn
cảnh, nó là hiện hữu
thân thiết
duy nhất luôn thầm thì
với bạn, cho dù bạn có
để ý đến nó hay
không.Và như đã
đề cập, hơi thở
là phương tiện trực
tiếp duy nhất mà thông qua
đó bạn có thể
điểu phục được
cả thân-tâm. Khi tâm bị
rối loạn, bạn có thể
điều phục bằng cách
nương vào hơi thở
vô / ra (như các đề
mục ở trên) để
làm cho những rối loạn
trong tâm lắng dịu. Chuyên
chú vào hơi thở càng
lâu thì tâm sẽ càng
lắng dịu và
bình thản trở lại. Cũng
vậy, khi thân thể có
những cảm giác bất an,
bạn cũng có
thể dùng hơi thở
để xoa dịu bằng cách
hít vô và thở ra thật
sâu, thật đều. Làm
như thế một hồi, bạn
sẽ lấy lại sự quân
bình, thanh thản và tự tin.
Hơi thở rất
quan trọng trong việc trị liệu
các phiền não nội tại.
Chẳng hạn, do an trú
trong sự vô ra đều
đặn của hơi thở
mà những tâm sân si, nóng
nảy, giận dữ sẽ
được giảm thiểu
rất nhiều. Đây là
cách trị liệu rất
đặc biệt và rất
hiệu
nghiệm. Nhất là, trong lĩnh
vực thiền quán, chuyên
chú vào sự luân lưu
của hơi
thở như vô / ra, dài /
ngắn hay tỉnh chỉ (hơi
thở rất tinh tế) sẽ
giúp bạn nhận
diện được sự
thật vô thường của
chính chiếc thân năm uẩn
này. Bạn sẽ có cơ
hội
để thấy rằng, thân
thể con người rất mong manh.
Nó mong manh như là chính
hơi
thở vậy, có ra mà không
có vào thì coi như mọi
chuyện chấm dứt. Cho
đến, những
cảm thọ, vui, buồn, khổ,
lạc và các uẩn khác
cũng đều mong manh như
vậy. Do tự
thân chứng nghiệm sự vô
thường trong từng hơi
thở, bạn lại có cơ
hội để nhiếp
phục các tâm tham ái,
chấp thủ, tranh chấp hơn thua,
lo âu, sợ hãi… Song song
với
quán niệm vô thường,
bạn nên khởi tâm
đại bi đến với
muôn loài chúng sinh.
Điều
này rất quan trọng, vì
sống-an trú trong tâm
đại bi, bạn sẽ có
khả năng phát
triển tâm khoang dung, tha thứ,
hỷ xả…; chính bản
chất của những tâm
thức này là
nền tảng của sự an
lạc. Nó sẽ nuôi lớn
thánh tâm của bạn và
giúp bạn vượt qua mọi
ưu phiền. Hơi thở và
tâm đại bi là chuyếc
thuyền hộ mệnh để
bạn vượt qua mọi giông
tố của phiền não trong
cuộc sống khi thực tập
hiện pháp lạc trú. Nói
tóm lại, hiện pháp lạc
trú
là một pháp môn nhiệm
mầu giúp bạn sống hạnh
phúc trong giòng thực tại
hiện
tiền ngay bây giờ và ở
đây. Chánh niệm, tỉnh
giác và an trú trong từng
nhịp thở
là con đường thoát ly
mọi khổ đau ngay trong con
người hiện tại này
và cuộc
sống hiện tại này. Trú
trong sự nhất
tâm-
an định, không một
phiền não nào có thể
làm xao động cuộc sống
tỉnh giác và
niềm phúc lạc nội tại
của bạn. Vì trong một
niệm nhất tâm, bạn có
thể vượt qua
mọi thăng trầm của thế
gian và sống tự tại
giữa thế gian với tuệ
giác vô ngã.
Trong Kinh Itivuttaka,
Đức Phật dạy:
“Người đã tiêu
trừ ảo kiến và phá tan
lớp tối tăm dầy
đặc trong tâm sẽ không
còn thênh thang đi mãi.
Đối với người
ấy, vấn đề nhân
và quả không còn
nữa.” Cầu mong
bạn thành tựu hiện pháp
lạc trú.
(Trích:
Khai Thien, Foundation of Your Spiritual
Journey) [i] Dưới
đây là một số kinh
căn bản trong đó
Đức Phật dạy về
thiền tập, bao gồm kinh: Nhập
Tức Xuất Tức Niệm (Ānāpānasati
Sutta), Trung Bộ III - Hán
tạng: Trị
Ý Kinh, Ðại I, 919; Kinh Thân Hành
Niệm, Niệm
Thân Kinh (Kāyagatāsati
Sutta), Trung Bộ III -
Trung A-hàm số 81, Ðại I, 554c; Kinh Niệm
Xứ (Satipathāna
Sutta), Trung Bộ
I - Hán tạng: Niệm
Xứ Kinh, Ðại I,
582b, Trung A-hàm số 98; Kinh
Song Tầm
(Dvedhāvitakka Sutta),
Trung Bộ I -
Hán Tạng: Niệm
Kinh, Ðại I, 589d,
Trung A-hàm số 102; Kinh
An Trú Lâm (Vitakkasanthāba
Sutta), Trung Bộ I - Hán
tạng: Kinh Tăng
Thượng Tâm,
Ðại I,
158a, Trung A-hàm số 101; Trường
bộ, kinh số 22; Tương
Ưng I. Kinh Samiddhi (Samyutta
Nikaya) tham khảo
Tạp A Hàm, 99, các kinh số
803, 810, và 815, Tương Ưng V, Thiên
Ðại Phẩm (Mahāvagga). Trung
Bộ, Kinh Người
Biết Sống Một Mình (Bhaddekaratta Sutta), 131. [ii] Tóm tắt từ bản dịch Kinh Samiddhi của Thích Minh Châu và Thích Nhất Hạnh.
|