|
|
KINH TRÁI TIM TUỆ GIÁC VÔ THƯỢNG
(PRAJÑĀPĀRAMITĀSŪTRA-HRDAYA-SÙTRA)
Khải Thiên
(Dịch và chú giải / bản mới - 2007)
~oOo~
Nội
Dung
Lời
Dẫn
Phần
một
Nguyên
Bản và Dịch Bản
I.
Tâm Kinh nguyên
Bản Sanskrit
II.
Tâm Kinh- bản
Hán dịch của Huyền Trang
III.
Bát Nhã Ba La
Mật Ða Tâm Kinh (Ngữ
âm Hán -Việt)
IV.
Tâm Kinh-bản Anh
Ngữ
V.
Tâm Kinh (bản dịch
tiếng Việt)
Chú thích đặc
biệt của bản dịch
tiếng
Việt
Phần
hai
Cấu
trúc Kinh Trái Tim
I.
Cấu Trúc
II.
Phân Tích
Phần
Ba
Thông
Điệp
I.
Thông điệp
từ Kinh
Trái Tim (bản
mới-2007)
Phần Bốn
Nghi thức thọ
trì Kinh Trái Tim
Phụ
Lục
I.
Message
from the Heart Sutra (American
version-2007)
II.
Words
from Heart of Wisdom
=====xxx=====
Lời
dẫn
Bản kinh
được dịch và
chú giải
dưới đây tiếng
Phạn (Sanskrit) gọi là Prajñāpāramitā Hrdaya
Sūtra;
Hán dịch: Bát
Nhã
Ba La Mật Ða Tâm Kinh;
Việt dịch: kinh
Trái Tim Tuệ Giác Vô
Thượng; gọi tắt
là Kinh Trái Tim hay Tâm Kinh (Heart
Sutra).
Về mặt
lịch sử, Bát Nhã là
bộ
kinh đầu tiên truyền bá
tư tưởng Ðại
thừa (Mahāyāna)
với giáo thuyết trung tâm
là Tánh Không (Śūnyatā).
Theo các nghiên cứu hiện
đại, bản kinh cổ nhất
của văn hệ Bát Nhã
là bản Aşţasāhasrikā
Prajñāpāramitā (Bát Nhã
Bát Thiên Tụng), gồm tám
ngàn câu kệ (ślokas)
hay còn gọi là Tiểu
Phẩm Bát Nhã, xuất hiện
khoảng 100 năm trước Tây
lịch. Đến
khoảng đầu thế kỷ
thứ nhất Tây lịch, kinh
Bát Nhã đã từ
từ được mở
rộng thành
Đại Phẩm Bát Nhã
với ba bản khác nhau, bao gồm
bản 100.000 câu, bản 25.000 câu,
và bản 18.000 câu. Nghiên
cưú của Eward Conze cho thấy
rằng nội dung chính của
ba bản trên đều giống
nhau, chỉ khác nhau ở những chi
tiết được lặp lai.[i]
Đặc biệt là, trong số
các bản Bát Nhã, có
những bản được tinh
lược rất ngắn;
hai trong số các bản ngắn
nhất và xuất hiện sớm
nhất (khoảng trước thế
kỷ thứ
IV Tây lịch) là bản Bát
Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra) và Kim
Cương Bát Nhã
(Diamond Sutra). Nghiên cứu của Edward
Conze xác định rằng sự
tập thành của
kinh Bát Nhã được
diễn ra theo một trình tự:
trước hết là Bát
Nhã 8.000 câu (ślokas),
tiếp theo sau là Bát Nhã 10.000
câu, 18.000 câu, 25.000 câu, và
100.000 câu; sau đó Bát
Nhã lại được tinh
giản
thành 2.500 câu, 700 câu, 500 câu,
300 câu (kinh Kim Cương), 150 câu,
25 câu
(Tâm kinh) và sau cùng chỉ
có một âm tiết
“A”. Sự tập thành
kéo dài này hoàn
tất vào khoảng năm 700
Tây lịch (A.D.)[ii]
Lịch sử
tư tưởng của văn
học Bát
Nhã đã được
nghiên cứu rất phổ
biến, đáng chú ý
nhất là những nghiên
cứu của
Thiền sư Suzuki và nhà
Phật học nổi tiếng Edward Conze[iii].
Và như đã đề
cập, tinh yếu của hệ
tư tưởng này
được gói trọn trong
bài Bát Nhã
Tâm Kinh (Heart Sutra), trong đó
bản dịch được
hâm mộ nhất đối
với Phật tử Á
Đông là bản của
ngài Huyền Trang (dịch vào
năm 649)[iv],
dài không hơn 300 chữ, hay
nói chính xác hơn là 262
chữ. Bản dịch này là
bản
kinh thuộc lòng của Phật
tử ở các nước
Viễn Ðông châu Á
và nó cũng được
lưu
hành rất phổ biến tại
các cộng đồng Phật
giáo ở châu Âu và
Bắc Mỹ với tên gọi
quen thuộc là Heart Sutra, tức là
Kinh Trái Tim. Theo Eward Conze, “Bát
Nhã Tâm
Kinh (Heart Sutra), một trong những văn
bản tâm linh hùng vĩ
nhất của nhân
loại, là một tái thẩm
định về bốn Chân
lý, được minh giải
dưới ánh sáng ưu
việt
của Tánh Không luận.”[v]
Bản
Tâm kinh này hiện nay đã
được
dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới. Bản Anh
ngữ đầu tiên do Max Muller
dịch,
in năm 1884; bản thứ hai do Shaku Hannya
dịch, in năm 1923; bản dịch
lần thứ ba
do Thiền sư Suzuki dịch, và
được in trong bộ Thiền
Luận (Essay in Zen
Buddhism) vào năm 1934. Và
đến năm 1948, Eward Conze công
bố thêm một bản
dịch mới. Trên đây
là các bản dịch nổi
tiếng của các học giả
có thẩm quyền
chuyên môn về Phật
học.
Về nội dung,
Tâm kinh được xem
như là “trái tim”
của toàn bộ tư
tưởng Phật giáo
Đại thừa được
nói ra bởi Tuệ
giác Vô thượng của
Phật, nhằm dắt dẫn
chúng sinh đi vào thực
tại–giải thoát. Do
đó, mặc dầu bản kinh
dài không qúa 300 âm tiết
nhưng nó đã đề
cập hầu hết các
giáo lý truyền thống như
bốn Thánh đế,
mười hai Nhân duyên, năm
Uẩn .v.v., đặc
biệt là những giáo lý
truyền thống đó
được soi sáng bằng con
mắt của Tánh
Không.
Nói về sự
kỳ vĩ của Tánh Không,
người viết đã
nhấn mạnh rằng: “Ðiều
độc
nhất vô nhị ở
đây là sự lôi
kéo về trần thế này
và con người này một
trú xứ
nhân gian Tịnh độ... mà
chúng ta cứ những tưởng
trú xứ của niềm phúc
lạc vô
biên đó không có
ở đây, ở mảnh
đất gổ ghề, cấu
nhiễm của những sinh linh đang
thất thểu trong vui buồn, say
tỉnh với bao nỗi khổ
trầm luân. Dưới ánh
sáng của
Tánh Không, lần đầu
tiên chúng ta biết rằng
quê hương của Niết
bàn là trần thế.”[vi]
Nội dung của
tập sách mà bạn đang
cầm trên tay không phải
là một nghiên cứu
đúng nghiã về Tánh
Không luận hay về
tư tưởng và văn
học Bát Nhã, mà trái
lại chỉ là một sự
chuyển ngữ từ Hán văn
sang Việt văn dựa trên nguồn cảm hứng
tâm
linh mà người viết
muốn diễn đạt bằng
ngôn ngữ ‘quê
hương’ của mình.
Bên
cạnh đó, người
viết cũng đưa ra một
vài ghi chú quan trọng về
bức thông điệp
của Tâm Kinh. Tuy Nhiên,
để tránh những ngộ
nhận về ngôn từ khi
đọc bản dịch
này, độc giả nên tham
khảo bản gốc tiếng
Phạn và Hán
được đính kèm.
Ở đây, nội
dung của tập sách này
được bố cục
thành bốn phần: Phần
một: Nguyên bản và một
số bản dịch Bát Nhã
Tâm Kinh; phần hai: Cấu trúc
của kinh; Phần ba: thông
điệp
của kinh, và phần bốn: nghi
thức thọ trì kinh. Trong lần
tái bản này, một vài
chi tiết được sửa
chửa và bổ sung so với
bản in lần đầu
mười năm trước
đây, in
vào năm 1997.
Sau cùng,
ước mong bản dịch và
những ghi chú về Tâm kinh
này, một cách nào
đó, giúp người
đọc khơi gợi nguồn
thiêng cảm nội tại và
khát vọng thể nghiệm
đời sống “xa
rời cuồng si mộng tưởng”,
một đời sống của
thực tại-giải thoát.
Nguyện đem công đức
này, hướng về khắp
muôn loài, cầu cho muôn
chúng sinh,
chóng viên thành Phật
đạo.
Los
Angeles, Mùa An Cư 2007
Khải
Thiên
Phần
Một
I. Tâm Kinh nguyên Bản
tiếng Phạn
prajñāpāramitāhṛdayasūtram
[saṃkṣiptamātṛkā]
//
namaḥ sarvajñāya //
āryāvalokiteśvarabodhisattvo
gambhīrāṃ prajñāpāramitācaryāṃ
caramāṇo vyavalokayati sma /
pañca skandhāḥ,
tāṃśca
svabhāvaśūnyān
paśyati sma //
iha
śāriputra rūpaṃ
śūnyatā, śūnyataiva
rūpam / rūpān na pṛthak
śūnyatā,
śūnyatāyā na pṛthag
rūpam / yad rūpaṃ sā
śūnyatā, yā
śūnyatā tad rūpam
//
evam eva
vedanāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni
//
iha
śāriputra sarvadharmāḥ
śūnyatālakṣaṇā
anutpannā aniruddhā
amalā na vimalā nonā na
paripūrṇāḥ / tasmāc
chāriputra
śūnyatāyāṃ na
rūpam, na
vedanā, na saṁjñā, na
saṃskārāḥ, na
vijñānāni / na
cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāṃsi,
na
rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ
/
na cakṣurdhātur yāvan na
manodhātuḥ //na vidyā
nāvidyā na vidyākṣayo
nāvidyākṣayo yāvan na
jarāmaraṇaṃ na
jarāmaraṇakṣayo na
duḥkhasamudayanirodhamārgā na
jñānaṃ na prāptir
nābhisamayas tasmād aprāptitvāt//
boddhisattvasyaprajñāpāramitām
āśritya viharato’
cittāvaraṇaḥ/
cittāvaraṇanāstitvād atrasto
viparyāsātikrānto
niṣṭhanirvāṇaḥ /
tryadhvavyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ
prajñāpāramitām
āśritya anuttarāṃ
samyaksaṃbodhim abhisaṃbuddhāḥ
tasmāj
jñātavyaḥ
prajñāpāramitā mahāmantro
mahāvidyāmantro
‘nuttaramantro ‘samasamamantraḥ
sarvaduḥkhapraśamanaḥ
satyam amithyatvāt/
prajñāpāramitāyām ukto
mantraḥ / tadyathā gate gate pāragate
pārasaṃgate bodhi svāhā //
iti
prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ
samāptam
II. Tâm Kinh- Bản
Hán dịch của
Huyền
Trang
般若波羅蜜多心經
(Taishō
No 251)
唐三藏法師玄奘譯
觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識亦復如是。舍利子。是諸法空相。不生不滅。不垢不淨不增不減。是故空中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛故。說般若波羅蜜多咒即說咒曰
揭帝揭帝 般羅揭帝 般羅僧揭帝菩提僧莎訶。
III.
Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm
Kinh (Ngữ âm
Hán -Việt)
1. Quán tự
tại Bồ Tát hành thâm
Bát nhã Ba la mật đa
thời,
chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhất thiết
khổ ách.
2. Xá Lợi
tử! Sắc bất dị không,
không bất dị sắc; sắc
tức
thị không, không tức
thị sắc; thọ, tưởng,
hành, thức diệc phục
như thị.
3. Xá Lợi
tử! Thị chư pháp không
tướng, bất sanh bất
diệt,
bất cấu bất tịnh, bất
tăng bất giảm.
4. Thị cố
không trung, vô sắc, vô
thọ, tưởng, hành, thức;
vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý; vô sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp;
vô nhãn
giới, nãi chí vô ý
thức giới; vô vô minh
diệc, vô vô minh tận;
nãi chí vô lão
tử, diệc vô lão tử
tận; vô khổ, tập,
diệt, đạo; vô trí
diệc vô đắc.
5. Dĩ vô
sở đắc cố, Bồ
đề tát đỏa y
Bát nhã Ba la mật đa cố
tâm vô quái ngại; vô
quái ngại cố vô hữu
khủng bố, viễn ly điên
đảo mộng tưởng;
cứu cánh Niết bàn.
6. Tam thế chư
Phật y Bát nhã Ba la mật
đa cố đắc A nậu
Ða
la tam miệu tam Bồ đề.
7. Cố tri Bát
nhã Ba la mật đa, thị
đại thần chú, thị
đại
minh chú, thị vô thượng
chú, thị vô đẳng
đẳng chú, năng trừ
nhất thiết khổ,
chân thật bất hư. Cố
thuyết Bát nhã Ba la mật
đa chú, tức thuyết chú
viết: “Yết
đế, yết đế, ba la
yết đế, ba la tăng yết
đế, Bồ đề, tát
bà ha.”
IV.
Tâm Kinh Bản Anh Ngữ
Prajñāpāramitā hrdaya Sūtra
1. The Bodhisattva
Avalokitésvara, while engaged in the
practice of profound Prajñāpāramitā,
perceived that the five aggregates were empty of
“self-existence”; thus, he
overcame all sufferings and troubles.
2. O Sāriputra, Form does not
differ from Emptiness, and
Emptiness does not differ from Form; Form is Emptiness, and Emptiness
is Form.
The same can be said of feelings, conceptions, actions, and
consciousnesses.
3. O
Sāriputra, the characteristics of the Emptiness of all
dharmas are that they are not arising, not ceasing, not defiled, not
immaculate, not increasing, and not decreasing.
4. For these reasons, in Emptiness
there are no forms, no
feelings, no conceptions, no actions, no consciousnesses: no eyes,
ears,
tongue, body, or mind; no form, sound, odor, taste, touch or
mind-object; no
eye elements until we come to no elements of consciousnesses; no
ignorance and
no extinction of ignorance; no old age and death, and no extinction of
old age
and death; no truth of sufferings, and no truth of the causes of
sufferings, of
the cessation of sufferings, or of the path. There is no knowledge and
no
attainment whatsoever.
5. By reason of non-attainment, the
Bodhisattva dwelling in
Prajñāpāramitā has no obstacles in his
mind. Because there are no obstacles in his mind, he has no fear and,
going far
beyond all perverted views, confusions, and imaginations, reaches the
ultimate
Nirvāna.
6. All the Buddhas of the past,
present, and future, by
relying on the Prajñāpāramitā,
attain the Supreme Enlightenment.
7. Therefore, one should know that the
Prajñāpāramitā is the great incantation, the
incantation of great wisdom,
the unexcelled incantation, and the equal of the unequalled incantation
that is
capable of allaying all sufferings, true because it is devoid of
falsehood.
This is the incantation proclaimed in the Prajñāpāramitā.
The incantation is proclaimed as follows: “Gate, gate;
pāragate, parasamgate,
Bodhi, svāhā!”
(Dựa theo bản dịch
của D.T. Suzuki, Garma
Chang và E. Conze)
V.
Tâm Kinh (bản dịch
tiếng
Việt)
Kinh Trái Tim Tuệ
Giác Vô Thượng
A- Khi tiến sâu (1)
vào nguồn mạch của Tuệ
giác Vô thượng
(2), Người Tỉnh Thức
Bình Yên (3) soi sáng như
thật rằng tự tính của
năm hợp
thể (4) đều là Không
(5), liền thoát ly mọi khổ
ách.
B- Này
người con dòng Sari (6), hình
thể chẳng khác chân
không (7), chân không chẳng
khác hình thể; hình thể
là chân không, chân không
là hình thể; cảm xúc
(8), niệm lự (9), tư duy (10) và
ý thức (11) đều là
như
vậy.
C- Này
người con dòng Sari, tất
cả hiện hữu
được biểu thị
là Không; nó không sanh,
không diệt; không nhơ,
không sạch; không tăng,
không
giảm.
D- Vì thế,
này người con dòng Sari, trong
Không không có
hình thể, không có cảm
xúc, không có niệm lự,
không có tư duy, không có
ý thức;
không có mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý ;
không có hình thể, âm
thanh, hương
thơm, mùi vị, xúc chạm
(12) và hiện hữu (13). Không
có đối tượng
của mắt, cho
đến không có
đối tượng của
ý thức; không có minh,
không có vô minh; không có
sự
chấm dứt của minh, cũng
không có sự chấm dứt
của vô minh; cho đến
không có tuổi
già và sự chết, cũng
không có sự chấm dứt
tuổi già và sự chết;
không có khổ
đau, không có nguyên nhân
của khổ đau, không có
sự chấm dứt khổ đau,
và không
có con đường đưa
đến sự chấm dứt
khổ đau (15); không có
trí giác (16) cũng
không có sự thành tựu
trí giác.
E- Người
Tỉnh Thức Bình Yên, do
không sở đắc nên
sống an
lành trong Tuệ giác Vô
thượng và thoát ly tất
cả chướng ngại. Và
rằng, vì không
có những chướng ngại
trong tâm nên không có sợ
hãi và xa rời những
cuồng si
mộng tưởng, cứu cánh
Niết bàn.
F- Tất cả
chư Phật trong ba đời (17)
đều nương vào
Tuệ giác
Vô thượng mà thành
tựu (18) chánh giác.
G- Vì thế,
nên biết rằng Tuệ giác
Vô thượng là sức
thần
(19) kỳ vĩ, là sức thần
của trí tuệ vĩ
đại, là sức thần cao
tuyệt, là sức thần
tối hậu, vô song; có
thể trừ diệt tất cả
khổ đau. Sức thần
thoắt sinh từ Tuệ
giác Vô thượng này
là sự thật, là chân
lý. Sức thần có năng
lực tối thượng
đó được
tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ
Giác Vô Thượng
rằng:
“Ði qua,
đi qua,
Ði qua bờ bên kia,
Ðã đi qua đến
bờ bên kia,
Svāhā!”
Chú
thích đặc biệt của
bản dịch tiếng
Việt:
(1)
Cụm từ “tiến sâu”
trong bản dịch này mang ý
nghĩa: sự “thể
nhập” hay “thể
nghiệm” của dòng tâm
thức trong “thiền
quán”.
Trạng thái của dòng tâm
thức này dĩ nhiên
được vận hành
trên căn bản của tâm
thức an định.
(2)
“Nguồn
mạch của Tuệ giác Vô
thượng”
được dịch từ
cụm từ “thâm
Bát nhã-profound
Prajñāparamitā”; ở
đây, “trí
tuệ bên kia bờ” hay
“trí tuệ
đáo bỉ ngạn”
— trí tuệ (prajñā),
bên kia bờ (pāramitā)
có thể được
hiểu là “tuệ
giác vô thượng”.
Vì lẽ, chỉ có hàng
đại Bồ tát từ
Bát Địa (trong Thập
địa) trở lên mới
phát huy trí tuệ đặc
biệt
này. Từ “nguồn
mạch” được
thêm vào
trong bản tiếng Việt
để nhấn mạnh yếu
tố “thẳm sâu”
của tuệ giác, một loại
tuệ
giác đầu nguồn mang tính
cách uyên nguyên và vô
phân biệt.
(3)
“Người
Tỉnh Thức Bình Yên”
trong nguyên văn của bản kinh
là Bồ Tát
Avalokitésvara (Bodhisattva
Avalokitésvara). Ở đây,
Avalokitésvara được dịch
theo hai cách: Quán Thế Âm
và Quán Tự Tại. Trong
bản dịch chữ Hán của
Ngài Huyền Trang, danh từ này
được
dịch là Quán Tự Tại.
Từ kép Sanskrit này
được kết hợp
bởi: Avalokita
có nghĩa
là quán,
chiếu kiến, hay nhìn
khắp nơi; và isvara có
nghĩa là chúa
tể, hay bậc siêu
nhân có quyền năng hành
xử một cách tự do. Vấn
đề này
cũng được bàn
đến trong Bát
Nhã Tâm Kinh
Tán của Viên Trắc
(Wonch’uk). Trong bản tiếng
Việt, danh từ này
được dịch
là “Người Tỉnh
Thức Bình Yên” nhằm
mô tả trạng thái “an
tịnh” trong tâm thức
của Bồ Tát, người
đang trú trong thiền
định và kiến chiếu
đương thể (năm
hợp
thể) tức không.
(4)
“Năm
hợp thể” là
năm uẩn (skandhas).
(5)
“Không”
tức là Śūnyatā.
(6)
Mẹ của
Sāriputra là
người rất thông minh nên
có hiệu là Sari. Trung Hoa dịch
chữ Sariputra là Xá
Lợi Tử, hay Xá Lợi
Phất nghĩa là, đứa con
dòng Xá Lợi (Sari). Do
đó, ở đây dịch
là: Người con dòng Sari,
lối dịch này đã
được sử dụng trong
bản dịch “Kinh Ruột
Tuệ Giác Siêu Việt”
của Thi Vũ, do Trí Quang giới
thiệu, xuất bản năm 1973,
tại
Paris.
(7)
“Hình thể
và chân
không” là hai từ biểu
thị cho sắc
và không.
Cả hai từ này đều mang
tính cách
giả định. Ví dụ: khi
nói đến sắc
tức
là nói đến một
hình thể, một vật hữu
hình, một vật
chất…mà nó đối
nghịch lại
với không:
như chân không, không hình
thù, không hiện hữu hay
không thực có. Dĩ nhiên, không trong
đối lập với sắc
ở đây được
hiểu là giả định;
nhưng Không
trong tinh yếu của Bát Nhã
là Śūnyatā, nó vượt
lên trên
mọi phân biệt, đối
lập giữa sắc
và không.
(8)
“Cảm
xúc” tức là Thọ
uẩn (vedanayā).
(9)
“Niệm
lự” là một cách
diễn dịch về Tưởng
uẩn (samjñā: những niệm
lự hay các ấn tượng
của tri giác).
(10)
“Tư
duy” tức là Hành uẩn (samskāra-mental
formations). Tư duy là yếu tố
căn bản trong đời sống
tâm thức, nó nổi bật
trong
mọi sự tạo tác và
tựu thành của nghiệp (karmic
formations).
(11)
“Ý
thức” (vijñāna)
là Thức uẩn, bao gồm
cả ba yếu tố: cảm xúc
(thọ), niệm lự
(tưởng), và tư duy
(hành).
(12)
“Xúc”
(sparśa) trong
(sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp). Xúc là
tiếp
xúc, giao thoa giữa các căn
và trần.
(13)
Hiện
hữu được dùng
đồng nghĩa
với pháp (dharma).
(14)
Vô minh (avidyayā), nguồn
gốc của sự khổ
đau.
(15)
Tứ
đế (Khổ đế,
Tập đế, Diệt
đế, Ðạo
đế).
(16)
Trí
giác dịch từ "Vô trí
diệc vô đắc".
(17)
Ba
đời: quá khứ, hiện
tại, vị
lai.
(18)
Thành
tựu ở đây có
nghĩa là đã
giải thoát khỏi thế
giới sinh tử của nhị
nguyên.
(19)
“Sức
thần” tức là năng
lực phi
thường được sinh
khởi linh ngữ hay thần chú (mantra).
Phần
Hai
Cấu Trúc Của Kinh
Trái Tim
I. Cấu
Trúc
Bản
Tâm kinh lời Việt trên
được chia thành bảy
phân đoạn, biểu thị cho
con đường tu
tập của Bồ Tát khởi
đầu bằng thiền quán,
và được trình
bày thứ tự như
sau:
1-Phân
đoạn một: Giới thiệu
tổng quát: a- Chủ thể
quán sát; b- Trí tuệ quán
sát ; c- Ðối tượng
quán sát, và
d- Tác năng hay hiệu lực
của trí tuệ quán
sát.
2- Phân
đoạn hai: Giới thiệu
về Tánh Không qua hai phạm
trù hiện tượng và
bản thể.
3- Phân
đoạn ba: Giải minh về
bản Tánh Không giữa
những khái niệm phân
biệt.
4- Phân
đoạn bốn: Minh thị Bản
Tánh Không vượt lên
trên 5
uẩn, 12 xứ,
18 giới và 12 nhân duyên
và 4 Thánh đế bằng
hình thức phủ định
liên hồi.
5- Phân
đoạn năm: Giới thiệu
về năng lực của Tuệ
giác Vô thượng và
sự thành tựu đời
sống “xa rời cuồng si
mộng tưởng” hay
đời sống “Niết
bàn”.
6- Phân
đoạn sáu: Xác chứng
về Tuệ giác Vô
thượng qua ba
đời chư Phật.
7- Phân
đoạn bảy: Minh thị về
sức thần (thần lực)
của Tuệ
giác Vô thượng
đối với sự diệt
trừ khổ đau hay thăng
chứng Niết bàn. Và, kết
thúc, Tâm kinh tuyên câu linh
ngữ: “Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi
svāhā!”
II. Phân Tích
A.
Phân đoạn một:
“Khi tiến
sâu vào nguồn mạch của
Tuệ giác Vô thượng,
Người Tỉnh Thức Bình
Yên soi sáng như thật
rằng tự tính của
năm hợp thể đều
là Không, liền thoát ly
mọi khổ ách.”
Ðoạn kinh
mở đầu này chỉ
có một
câu duy nhất, cũng là câu
luận đề (thesis statement) của
toàn bộ bản kinh. Và
sau khi đọc hết toàn
bản kinh ta sẽ thấy rằng
tất cả nội dung của nó
được hàm
chứa trong câu luận đề
này một cách trọn vẹn
và chặt chẽ. Ở
đây, luận đề
của
kinh bao gồm: (1) Chủ thể quan
sát (Bồ Tát Avalokitésvara), (2)
Ðối tượng quan
sát (năm uẩn hay năm hợp
thể), (3) Cơ sở quan sát
(trí tuệ Bát nhã) và (4)
Tác
năng hay hiệu lực của
trí tuệ quan sát (soi sáng
tự tính của năm hợp
thể là
Không, và thoát ly mọi
khổ ách)
(1) Chủ
thể quan sát:
Bồ Tát
Avalokitésvara được dịch
theo hai cách: Quan Thế Âm và
Quán Tự Tại, cả hai danh
từ này đều chỉ cho
một
vị Bồ Tát. Như
đã đề cập, danh
từ Avalokitésvara, trong Tâm Kinh,
được dịch là
Quán Tự Tại nhằm nhấn
mạnh “quyền năng vô
ngại” của vị
đại Bồ tát dùng
phương
tiện quán chiếu Bát Nhã
để soi sáng (kiến
chiếu) đương thể
tức không một cách
tự do. Mặc dù vậy, theo
từ nguyên, Quán Thế Âm
hay Quán Tự Tại đều
được dịch từ
một danh từ duy nhất đó
là Avalokitésvara. (Xem chú
thích 03.) Trong nỗ
lực Việt hóa, danh từ
“Quán Tự Tại”
được dịch là
“Người Tỉnh Thức
Bình Yên”.
“Tỉnh thức” và
“bình yên” ở
đây biểu thị cho trạng
thái “an tịnh” của
thiền
định.
(2) Ðối
tượng quan sát:
Ðối
tượng quan sát ở
đây là năm
uẩn hay năm hợp thể (aggregates)
gồm: hợp thể của sắc
(thuộc thế giới vật
lý),
của thọ, tưởng, hành
và thức (thuộc tâm lý),
nói chung là con người và
thế giới
sự vật hiện tượng (The
world of phenomena).
(3) Cơ sở
quan sát:
Ở đây,
cơ sở dùng để quan
sát là
trí tuệ Bát nhã (Tuệ
giác Vô thượng), hay trí
tuệ thoát ly nhị nguyên;
trực
nhận thực tại như là
chính nó (to their appearances as they really are).
Kinh
gọi là trí tuệ bên kia
bờ: Trí tuệ (prajñā),
Bên kia bờ (pāramitā).
(4) Tác
năng của trí tuệ quan
sát:
Tác năng
của trí tuệ quan sát
trước hết được
xác định ở hai
điểm ngay trong câu luận
đề của kinh: a) “Hành
thâm Bát nhã” (engaged
in the
practice of profound Prajñāpāramitā)
và b) “Chiếu
kiến ngũ uẩn giai không”
(perceived that the five aggregates are empty of self-existence).
Mối quan hệ
nhân quả được
thể hiện rất rõ ở
đây là khi Bồ Tát
“Hành thâm
Bát nhã” thì
người sẽ “Chiếu
kiến ngũ uẩn giai không”
và do đó được
“thoát ly mọi
khổ ách” (overcame all
sufferings and troubles). Như
vậy, tác năng hay hiệu
lực của trí tuệ quan
sát ở đây là
thực tại-giải thoát.
Cũng nên lưu ý rằng,
mệnh đề “độ
nhất
thiết khổ ách”
là phần được
thêm vào trong bản dịch.
B. Phân
đoạn hai:
“Này
người con dòng Sari, hình
thể chẳng khác chân
không, chân không chẳng
khác hình thể. Hình thể
là chân
không, chân không là hình
thể; cảm xúc, niệm lự,
tư duy và ý thức
đều là như
vậy.”
Phân đoạn
này giới thiệu về Tính
Không qua hai phạm trù: hiện
tượng
(phenomenon) và bản
thể (noumenon).
Về mặt hiện tượng,
kinh giả định bằng hai
hiện hữu (dharma)
đối lập: sắc
(hình thể) và không
(chân không—không
hình thù và không
tướng trạng). Dựa vào
hai phạm trù giả định
này, kinh minh
thị sự đồng nhất
của bản thể: “sắc
chẳng khác không
và ngược lại không
chẳng khác sắc;
sắc là không và không
là sắc”.
Có thể lấy
thí dụ về hình ảnh
của sóng và
nước
để minh họa cho hai phạm
trù sắc
và không.
Về mặt hiện tượng,
sóng và nước là hai
biểu hiện hầu như
khác nhau, nhưng về mặt
bản thể, sóng là hiện
thân của nước, hay nói
khác đi,
sóng chính là nước.
Ở đây không có
khác biệt nào trong bản
chất của sóng và
nước. Đây là cơ
sở để nhận thức
về “thực tính-vô
tính” của năm uẩn
(sắc, thọ, tưởng,
hành, và thức).
C.
Phân đoạn ba:
“Này
người con dòng Sari, tất
cả
hiện hữu được
biểu thị là Không; nó
không sanh, không diệt, không
nhơ, không
sạch, không tăng, không
giảm.”
Phân đoạn
này giải minh bản tính
Không hay còn gọi là
“thực tính-vô
tính” của hiện hữu
(dharmas) giữa những khái
niệm phân biệt, bao gồm con
người và thế giới
sự vật hiện tượng.
Bản chất của
con người và thế giới
vốn không có một ngã
thể độc lập, chúng
là hiện hữu của
duyên sinh; do đó, từ trong
thâm sâu, cái mà gọi
là tự tính của hiện
hữu thực
chất là “vô
tính” hay “Không có
tự tính”. Nói khác
đi, bản chất của tất
cả hiện
hữu là không có một
ngã thể (entity) độc
lập, tuyệt đối. Vì
vậy, chuyện sinh
diệt, nhơ sạch, tăng
giảm ở đây là do
ý niệm phân biệt của
con người giả định
mà
thôi; hiện hữu hay các
pháp vốn không có những
đặc tính đó.
Ðiều này được
giải
thích rõ qua: (i) giáo thuyết
của Trung Quán (Mādhyamika) với các
mối liên hệ giữa
“không, giả danh, và trung
đạo”;
hoặc là (ii) ba tự tính
của triết học Duy thức (Vijñapati-mātratā-vāda): 1-
Tự tính giả lập (parikalpita
- svabhāva): hiện hữu
vốn
không thật nên không thể
được xem như là sinh
diệt, nhơ sạch, tăng
giảm. 2- Tự tính tùy
thuộc (panratantra
svabhāva), hiện hữu là
do duyên sinh nên không thể
nói là có sinh diệt, nhơ
sạch, tăng giảm. 3- Tự
tính tuyệt đối (prinispanna-svabhāva),
hiện hữu của các pháp
là “như thế” (tathagata),
vốn thoát ly ngoài ý
niệm nhân, ngã nên không
thể nói đến sinh diệt,
nhơ sạch,
tăng giảm.
D. Phân
đoạn bốn:
“Vì thế,
này người con dòng Sari,
trong Không không có hình
thể, không có cảm xúc,
không có niệm lự, không
có tư
duy, không có ý thức,
không có mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý;
không có hình
thể, âm thanh, hương
thơm, mùi vị, xúc chạm
và hiện hữu; không có
đối tượng của
mắt cho đến không có
đối tượng của
ý thức; không có minh,
không có vô minh;
không có sự chấm dứt
của minh, cũng không có
sự chấm dứt của vô
minh; cho đến
không có tuổi già và
sự chết, cũng không có
sự chấm dứt của tuổi
già và sự
chết; không có khổ đau,
không có nguyên nhân của
khổ đau, không có sự
chấm dứt
khổ đau và không có con
đường đưa
đến sự chấm dứt
khổ đau; không có trí
giác
cũng không có sự thành
tựu trí giác.
Nội dung của
phân đoạn này, Tâm
kinh giải thích về “vô
tự tính” hay “bản
tính không” thông qua sự
phủ định các
pháp căn bản: 5 uẩn (skandhas): Sắc
(hình thể) gồm nội sắc
(thân thể vật lý) và
ngoại sắc (thế giới
sự vật hiện
tượng). Nội sắc bao
gồm: cảm xúc (cảm
thọ), niệm lự (tưởng),
tư duy (hành) và ý
thức. Kế đến, Tâm kinh
nói về các xứ (ayatanas),
nơi sản sinh ra các tác
nghiệp. Sáu xứ bao gồm: 6
nội xứ (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý) và 6
ngoại xứ
(sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp [hay hiện hữu]),
cộng chung lại thành 12 xứ.
Do các hoạt động giao
tiếp giữa sáu nội xứ
(chủ thể) và sáu ngoại
xứ (đối
tượng) nên hình thành
sáu thức (của mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và
ý), gọi chung
là 18 giới (dhatus), tức 18 nền
tảng của hiện hữu.
Nương tựa vào 5 uẩn
(hợp
thể) và 18 giới mà 12
nhân duyên (vô minh, hành,
thức, danh-sắc, lục nhập,
xúc,
thọ, ái, thủ, hữu, sinh,
lão - tử) xoay tròn theo nguyên
tắc của Bốn Thánh
đế
(khổ, tập, diệt, đạo)
theo hai hướng, hoặc lưu
chuyển (từ tập đế
đến khổ đế)
hoặc hoàn diệt (từ
đạo đế đến
diệt đế).
Điểm chính
của phân đoạn này
là ở
chỗ, Kinh dùng hình thức
phủ định liên hồi
của nó để cắt
nghĩa khái niệm “vô
trí diệc vô
đắc”. Mục tiêu
chính của phát biểu
nàylà nhằm phủ
định bất kỳ sự
bám víu (có thể) nào
của phân biệt nhị
nguyên.
E. Phân
đoạn năm:
“Người
Tỉnh Thức Bình Yên, do
không sở đắc nên
sống an lành
trong Tuệ giác Vô thượng
và thoát ly tất cả
chướng ngại. Và rằng,
vì không có
những chướng ngại trong
tâm nên không có sợ
hãi và xa rời những
cuồng si mộng
tưởng, cứu cánh Niết
bàn.”
Phân đoạn
này nói về sức mạnh
của
Tuệ giác Vô thượng hay
là Trí tuệ Bát nhã.
Ở đây, điều quan
trọng là khi hành
giả an trú trong trí tuệ
Bát nhã sẽ vượt qua
mọi chướng ngại của
vô minh, tham
ái và chấp thủ. Hay nói
khác hơn là với trí
tuệ Bát Nhã, hành giả
sẽ thấy rõ
hiện hữu như là chính
nó, nghĩa là tất cả
những gì xuất hiện trong tri
giác
phân biệt của chúng ta
đều là vô ngã,
vô thường. Do thấy rõ
như vậy nên hành
giả vượt thoát mọi
chướng ngại; và lúc
bấy giờ trong tâm hành
giả không còn sự
hiện hữu nào của sợ
hãi và cuồng si mộng
tưởng. Một tâm thức
tịch tịnh như thế
chính là miền Niết bàn
cứu cánh. Dưới ánh
sáng rực rỡ của trí
tuệ Bát nhã, mọi
phân biệt nhân ngã
đều hóa thành hư
ảo và mọi sự bám
víu đều được
rũ bỏ trong
đời sống “viễn
ly”. Đây là mục
tiêu của Bát Nhã.
F. Phân
đoạn sáu:
“Tất cả
chư Phật ba đời
đều nương
vào Tuệ giác Vô
thượng mà thành tựu
chánh giác.”
Phân đoạn
này được xem như
là
điều xác chứng của
Phật về năng lực và
sức mạnh vĩ đại
của Tuệ giác Vô
thượng
qua truyền thống giác ngộ
của chư Phật ở quá
khứ, hiện tại, và vị
lai. Đây
cũng là lý do tại sao trong
văn học Bát Nhã nhấn
mạnh rằng “Bát Nhã
là mẹ của
chư Phật.”
G. Phân
đoạn bảy:
“Vì thế,
nên biết rằng Tuệ giác
vô thượng là sức
thần kỳ vĩ, là sức
thần của trí tuệ vĩ
đại, là sức thần cao
tuyệt, là sức thần tối
hậu, vô song, có thể
trừ diệt tất cả khổ
đau. Sức thần
thoắt sinh từ Tuệ giác
Vô thượng này là
sự thật, là chân lý.
Sức thần có năng
lực tối thượng
đó được tuyên
nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác
Vô Thượng rằng:
“Ði qua, đi qua, đi qua
bờ bên kia, đã đi qua
đến bờ bên kia,
svaha!”
Phân đoạn
này xác định thêm
một
lần nữa về sức mạnh
của năng lực trí tuệ,
có thể diệt trừ khổ
đau, siêu thoát
cho chính mình và tế
độ tha nhân. Ðoạn
kết của kinh Trái Tim, ta thấy
rõ trí
tuệ (wisdom) được
đề cao như một chân
lý tuyệt đối (Absolute truth),
và đây quả
thực là “trái tim”
của tư tưởng
Đại thừa Phật giáo,
một loại tư tưởng
triết học
ở bên kia bến bờ của
nhị nguyên.
Tóm
lại, nội dung của kinh Trái Tim
dài không quá 300 chữ,
được mở đầu
bằng luận
đề: “Khi tiến sâu
vào nguồn mạch của tuệ
giác vô thượng,
Người Tỉnh Thức Bình
Yên soi sáng như thật
rằng tự tính của năm
hợp thể đều là
Không, liền thoát ly
mọi khổ
ách”. Và nội dung
chính của kinh là triển khai
luận đề: “Soi sáng
như thật rằng tự tính
của năm hợp thể
đều là Không” qua
sự phân tích tiến trình
của 5 uẩn (hợp thể) 12
xứ, 18 giới, 12 nhân duyên
và 4 Thánh đế. Rõ
ràng, kinh
Trái Tim có một giá trị
đặc biệt về ngôn
ngữ và kết cấu văn
pháp, cũng như về
nội dung thông điệp (xem
Phần Ba) của nó. Có lẽ,
đây là lý do tại sao
bản kinh
rất ngắn này
được truyền tụng
hàng ngày trong đời sống
của người Phật tử. Tuy
nhiên, trước viễn cảnh
của thực tại, thông
điệp của kinh Trái Tim
cũng chính là
sự thách thức lớn lao
của con người. Vì lẽ,
đối diện với Tánh
Không, chủ thể
hoặc là bị cuốn hút
vào thế giới hư vô
không tận, hoặc là nở
nụ trưng bày sức
sống luân lưu bất tuyệt
của dòng thực tại.
Sóng về
xóa dấu
chân không
Bỗng dưng thuyền đã
bên dòng Chân như.
Phần Ba
Thông Điệp
của Kinh Trái Tim
Lời
dẫn vào Thông điệp
Bạn
thân mến,
Mười
năm trước đây khi
viết bức thông điệp
của Kinh
Trái Tim tôi đã
viết với tất cả tấm
lòng. Lúc đó tôi
tự nói với lòng mình
rằng, “công việc này
qủa thực là liều lĩnh
nhưng đầy hứng
thú.” Tuy nhiên, tôi
chưa bao giờ cảm thấy
hài lòng với bức thông
điệp đó. Tôi
cũng chẳng hiểu vì
sao? Thế rồi mười năm
sau, khi đọc lại bản
cũ, tôi cảm thấy mình
cần phải quay
trở về với công việc
này thêm một lần nữa.
Và đó là sự ra
đời của bức thông
điệp mà bạn đang
cầm trên tay.
Khi
viết bức thông điệp
này, tôi không mang một ý
thức rằng mình đang cắt
nghĩa hay
giải minh về triết học
Bát nhã, mà trái lại,
tôi viết từ một cảm
xúc mà có lúc
muốn bật khóc vì thấm
thía cái đẹp tuyệt
vời trong lời dạy của
Đức Phật. Lời
dạy của Ngài đã
cứu rỗi tôi, ban cho tôi
một sự bình yên nội
tại mà không làm
sao tôi có thể sánh với
cái gì trên thế gian này.
Ước
mong rằng, qua bức thông
điệp này, chúng ta có
thể dìu dắt nhau đi qua
những đa
đoan thế sự để
trở về với miền hạnh
phúc-thực tại không bản
ngã. Khi vui cũng
như khi buồn, xin bạn hãy
đọc bức thông
điệp này để
sưởi ấm cõi lòng
nhân gian.
Hy vọng, nụ cười của
bạn sẽ xóa tan đau khổ
của sinh linh khắp trong ba nghìn
thế giới.
Nam
Mô
Đại Bi Quán Thế Âm
Bồ Tát.
Los Angeles, Mùa an cư 2007.
Khải Thiên
- Hành Tinh Của Ánh
Sáng
Bạn
thân mến,
Bức
thông điệp mà bạn
đang cầm trên tay là
“một phần tinh hoa”
được rút ra từ Kinh Trái Tim Tuệ Giác
Vô Thượng. Khi
nói đến “một
phần tinh hoa” tôi muốn
nói rằng chúng ta đang
chiêm nghiệm cái
đẹp siêu việt và
toàn bích của Bát nhã
trong một chiều kích rất
giới hạn của
một tâm hồn còn nhiều
xao xuyến bởi được,
mất, hơn, thua…Tuy nhiên,
như ánh
sáng của mặt trăng,
những ai có mắt đều
nhìn thấy được; song
cái đẹp của ánh
sáng đó như thế
nào là tùy thuộc ở
mỗi đôi mắt hay nói
khác hơn là ở mỗi
tâm
hồn. Chúng ta, ở đây,
đang chia sẻ với nhau về
bức thông điệp kỳ
vĩ của Bát nhã
không phải trên bình
diện của lý thuyết mà
ngay trong đời sống thực
tại. Chắc
chắn rằng những ai lĩnh
hội được bức
thông điệp của Bát
nhã, cho dù chỉ là một
phần rất nhỏ, sẽ có
được một đời
sống hạnh phúc và bình
an thực thụ, một đời
sống “xa rời cuồng si
mộng tưởng”, một
đời sống tự tại
giữa trùng điệp khổ
đau.
Để có
thể đi vào đời
sống mầu nhiệm của Bát
nhã, trước hết bạn
cần phải một lần, hay
ít ra là ngay trong giờ phút
này, bước vào hành tinh
của ánh sáng. Vì lẽ,
sinh
mệnh của Bát nhã chính
là ánh sáng trí tuệ,
một thứ ánh sáng
vượt lên trên mọi
giới hạn của tâm hồn
trần thế, hay nói khác
hơn đó là ánh
sáng trí tuệ (prajñā) ở bên kia
bờ (pāramitā). Chính nhờ
ánh sáng này mà một
“linh hồn” khổ đau
có thể được
“cứu
rỗi”, một đời
sống hạnh phúc thực
thụ có thể
được dựng lập,
và trên hết, một
tâm thức giác ngộ hy
vọng được bừng
lên không phải ở
đoạn kết của cuộc
đời hay
ở bên kia thế giới mà
ở chính tại mảnh
đất này và con
người này. Bạn nên
nhớ
rằng, chúng ta có nhiều
loại ánh sáng: ánh sáng
của mặt trời, mặt
trăng, ánh
sáng của thế giới tự
nhiên, ánh sáng sinh học,
ánh sáng của khoa học,
ánh sáng
của tri thức .v.v. Ở
đây, ánh sáng trí
tuệ bên kia bờ (prajñāpāramitā), gọi tắt
là Bát nhã, là một
loại ánh sáng tâm linh phi
thường, bạn không thể
lĩnh hội bằng còn
đường lý
luận, mà trái lại, bạn
chỉ có thể đạt
được bằng con
đường thể nghiệm
và tu tập hằng ngày của
chính bản thân. Điều
rất
quan trọng mà bạn cần
phải tỉnh thức ngay bây
giờ và ở đây
là, đời sống hạnh
phúc của thế gian—tình
yêu, tiền bạc, danh vọng,
địa vị, quyền lực
.v.v.— trên
thực tế hoàn toàn không
có gì được bảo
đảm và chắc chắn,
bởi vì tất cả
đều
không ngừng thay đổi theo
định luật vô
thường. Chỉ một cơn
giận hay một sự hiềm
tỵ nổi lên trong dòng
lưu chuyển của tâm
thức, trong tích tắc mọi
thứ có thể sẽ
hoàn toàn đổi khác;
lúc bấy giờ cái mà
chúng ta cho là tình yêu,
là hạnh phúc…
có thể biến thành khổ
đau. Vì thế, đời
sống hạnh phúc của thế
gian sẽ rất bấp
bênh nếu như nó không
được soi sáng và
dắt dẫn bởi ánh sáng
của Bát nhã.
Vậy
đặc tính ánh sáng
của Bát nhã là gì
và nó
đến từ đâu?
Bát
nhã, như đã nói,
là một loại ánh sáng
của trí tuệ mà tự
thân nó vượt lên
trên
mọi định kiến, cố
chấp về “hữu, vô,
sinh, diệt, thường,
đoạn, đồng, dị,
khứ,
lai”[vii].
Do dựa vào bản chất
siêu việt mọi định
kiến, cố chấp nên Bát
nhã được định
nghiã là “trí tuệ
ở bên kia bờ” (trí
tuệ đáo bỉ ngạn), hay
còn gọi là “trí
tuệ-vô ngã”. Cũng
vậy, nhờ vào tính siêu
việt này mà Bát nhã
luôn cưu mang
trong chính nó một khả
tính vô bờ. Thử lấy
bàn tay làm thí dụ. Khi ta
đã cầm
chắc một vật nào
đó trong tay, thì bàn tay
tự nó không còn khả
năng cầm thêm
một vật khác. Ngược
lại, khi ta không cầm nắm hay
bám víu (thủ trước)
bất kỳ
cái gì, lúc bây giờ
bàn tay của ta sẽ có
một khả năng vô hạn,
nghiã là nó có
thể cầm bất cứ cái
gì nó muốn. Đó
chính là ý nghiã và
khả tính của sự không
bám
víu (vô thủ trước).
Tương tự như thế, khi
một tâm thức không bám
víu hay không
bị chi phối bởi tham, sân,
chấp ngã, hay phiền não,
nhiễm ô, lúc bấy giờ,
thực
tại của tâm sẽ lưu
chuyển như một nguồn
ánh sáng bao la không giới
hạn, và
không chướng ngại.
Đấy chính là một
loại “thần lực”
đặc thù của tâm
thức không
bám víu. Do vậy, ánh sáng
siêu việt của Bát nhã
được kết thành
từ một tâm thức
không có định kiến
và cố chấp, hay nói khác
hơn là một tâm thức
xả ly, thanh
tịnh.
Trên
thực tế, thực tại của
tâm luôn cưu mang hai dòng
năng lượng: sáng (thiện)
và
tối (bất thiện). Dòng
năng lượng của ánh
sáng là tâm từ bi, tâm
yêu thương, tâm
khoang dung, tâm hỷ
xả…và ngược
lại, là dòng năng
lượng tối tăm, tức
là: tham
lam, sân hận, thù oán,
cố chấp, phiền não, và
nhiễm ô. Vì lý do này,
Bát nhã
được gọi là hành tinh của ánh
sáng,
một hành tinh không có
bất kỳ một bóng mờ
nào của phân biệt, cố
chấp; một hành
tinh của đời sống xả
ly thực thụ. Và đấy
cũng là lý do tại sao,
bạn được mời
gọi ngay từ đầu hãy
một lần bước vào
hành tinh của ánh sáng
để có thể lĩnh
hội
bức thông điệp hùng
vĩ của Bát nhã ba la mật
(prajñāpāramitā).
Nói tóm
lại, bạn không cần
thiết phải vướng bận
quá
nhiều vào ngôn từ
để đi vào thể
nghiệm đời sống Bát
nhã; một điều duy nhất
bạn
cần thực hành đó
là hãy sống tự tại
giữa lòng hiện hữu,
sống buông bỏ mọi bám
víu, cố chấp, nhất là
sự bám víu vào một
khát vọng vĩnh cửu. Vì
khát vọng vĩnh
cửu trên thực tế không
gì khác hơn là hiện
thân của lòng chấp ngã.
Nên nhớ rằng
bạn sẽ không mất cái
gì hết khi thực hành tâm
xả ly, mà trái lại,
chính sự xả
ly hay không bám víu của
tâm sẽ đem lại cho bạn
một đời sống nhẹ
nhàng hơn và
an lạc hơn rất nhiều.
Xả ly chừng nào thì
hạnh phúc chừng đó.
Bạn sẽ là người
rất
hạnh phúc khi mọi gánh
nặng (sự
bám víu) trong
tâm của chính bạn
được đặt
xuống (xả ly).
- Từ Đôi Mắt
Tinh Nguyên
Bạn thân
mến,
Giữa cuộc
sống với nhiều điều
không như ý, với
nhiều bức bách, bất an,
và thậm chí với nhiều
khổ đau, làm sao bạn có
thể thực
hành đời sống xả ly
để nắm bắt hạnh
phúc? Đấy là câu
hỏi của nỗi niềm
thống
thiết và là thách thức
lớn nhất trên con
đường tìm kiếm
hạnh phúc của bạn. Xin
hãy đừng lo âu! Thông
điệp của Kinh Trái Tim
sẽ giới thiệu cho bạn
một
bước đi (nguyên lí)
căn bản để bạn
có thể thực tập
đời sống xả ly và
thụ hưởng
nguồn hạnh phúc, an lạc ngay
trong hiện tại của đời
sống, cho dù đời sống
đó là
bất an. Bước đi căn
bản này được
bắt nguồn từ
“đôi mắt tinh
nguyên” mà Người
Tỉnh Thức Bình Yên (Avalokitésvara)
đã thực hành thành
tựu và đã vượt
qua mọi khổ đau.
Để thực
tâp bước đi căn
bản này, trước hết
bạn hãy
nỗ lực làm cho đôi
mắt của chính bạn trở
nên long lanh, sáng ngời
để nó có thể
đạt đến một
trạng thái tinh nguyên; nghiã
là, hãy làm cho con mắt
của bạn không
còn bị giới hạn bởi
“cái bạn đang
là”!
“Cái
bạn đang là” là
gì? Đó
chính là con người hiện
tại của bạn, một con
người được
nhận diện qua năm yếu
tố: cơ thể (body), cảm
thọ (feeling), ảnh tượng
của tri giác (perception),
khuynh hướng tư duy (volitional action),
và ý thức của các
giác quan
(consciousnesses).
Ở đây,
cái nguyên nhân trực
tiếp làm cho bạn bị
phiền não, bất an, hay ngăn
cản bạn thụ hưởng
nguồn hạnh phúc sống
động luôn
trôi chảy, trước hết
chính là sự “vẩn
đục” của đôi
mắt, hay nói khác đi là
sự
bám víu của đôi
mắt (ngã kiến). Nói một
cách cụ thể, bạn đang
sống với/trong
những sự thật như vầy:
tôi đang bận tâm với
cơ thể của tôi vì
nó đang thay đổi;
những cảm giác này là
cái hoặc là tôi khao khát
hoặc là cái tôi chán
ghét; tôi
đang sa đà hay bị cuốn
hút một cách thụ
động bởi những ảnh
tượng (vui, buồn,
thương, ghét .v.v.) trong tâm
tôi; tôi bị buộc phải
suy nghĩ miên man không tự
chủ về một qúa khứ xa
xôi hay về một tương lai
mờ ảo; tôi có ý
thức, nhưng ý
thức của tôi bị tán
loạn không ngừng .v.v. Những
sự thật này chính là
những
biểu hiện của sự bám
víu (chấp thủ), nó luôn
làm vẩn đục đôi
mắt của bạn và dĩ
nhiên nó là sức mạnh
vô hình dồn bạn vào
bến bờ của cả hy vọng
và sợ hãi. Trên
thực tế, hy vọng và sợ
hãi là hai yếu tố
thường trực trong tâm
của bạn, nó hiện
diện ngay cả trong chiêm bao và
mộng mị. Cho đến khi
nào bạn những bám víu
này
được buông xuống,
thì đôi mắt của
bạn sẽ trở về tinh
nguyên; nghiã là nó sẽ
nhìn hiện hữu như là
chính nó.
Làm
sao cho đôi mắt trở về
tinh nguyên?
Như đã
đề cập ngay từ
đầu, bạn cần phải
ít nhất một
lần bước vào hành tinh
của ánh sáng, vì ở
đó không có sự
hiện diện của những
năng lượng tối tăm,
tức là những tâm thức
tham, sân, kiêu mạn…
Để bước vào
hành
tinh ánh sáng, trên nguyên
tắc không phải là một
công việc khó khăn hay
nghiêm
trọng; vì lẽ, bạn không
cần phải làm thêm cái
gì hết mà chỉ có
bỏ bớt [những
bám víu] đi thôi! Trong
một giây phút, nếu bạn
có thể bỏ đi những
bám víu và để
cho dòng tâm thức của
bạn trôi chảy trong sự
tịnh lạc, lập tức bạn
có thể trở
về với đôi mắt tinh
nguyên. Để làm
được điều
đó, bạn nên tư duy
về ba tư tưởng
trọng yếu của cuộc
sống như sau:
1. Bản chất
của cuộc đời là
vô thường, bạn không
thể biến nó trở thành
thường hằng; do đó
hãy chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu
trong dòng biến dịch-vô
ngã một cách không phản
khán. Hãy thả mình
để lắng nghe
từng nhịp thở của
cuộc sống!
2. Mục
đích của cuộc sống con
người là tìm kiếm
hạnh phúc, và cao hơn là
chân lý; vậy thì, nếu
sự buông bỏ bám víu
vào “cái
tôi”, một cách nào
đó, có thể sinh khởi
nguồn hạnh phúc cho ta, tại sao
không
thực tập sự buông bỏ
để sống hạnh phúc.
3. Cuộc sống
vốn là một hợp thể
không có thật tính,
và do đó nó luôn bao
hàm cả cái tốt lẫn
cái xấu. Nếu chỉ chấp
nhận cái mình ưa
thích và chạy trốn cái
mình không ưa thích, thế
là mình trở thành kẻ
bị động.
Ngược lại, khi bạn sẵn
sàng chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu như
thế là tự biến
mình thành kẻ chủ
động từ một gã
cuồng si bị động. Sự
thật là, khi nào bạn làm
chủ được mình,
lúc đó bạn sẽ
làm chủ được
thế giới chung quanh mình.
Ba tư
tưởng này, trong vô vàn
tư tưởng khác, sẽ
giúp bạn trước hết
là rửa sạch đôi
mắt của mình và sau
đó tạo dựng cho tâm
thức
của chính mình một sự
bình yên nội tại.
Người Tỉnh Thức Bình
Yên, với đôi mắt
tinh nguyên không vẩn
đục, đã nhìn
thấy như thật rằng bản
chất của cơ thể này,
của cảm thọ này, của
mộng tưởng này, của
tư duy này, và của ý
thức này là một
hợp thể nhân duyên, có
đó rồi mất đó.
“Cái tôi” thực
chất chỉ là một ý
niệm hão
huyền. Do thấy như vậy
mà mọi phiền não
được rủ sạch,
và người đã
vượt thoát
mọi khổ đau.
3. Biển và
Sóng
Bạn thân
mến,
Để có
thể chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu một
cách
tự tại, bạn cần phải
nắm chắc trong tay một nguyên
lí đó là tính
cách “vô phân
biệt” (không hai, không
khác) của Bát nhã. Dĩ
nhiên khái niệm “vô
phân biệt”
được dùng ở
đây không có nghĩa
là “không biết tốt,
xấu”, mà trên căn
bản nó là
một “thách thức”
của cái tự ngã
độc tôn và vị
kỷ. Vì thế, vấn nạn
được đặt ra ở
đây là: dẫu biết
rằng chân lý của cuộc
sống là vô thường
và bạn cũng có thể
chấp nhận điều
đó một cách dễ
dàng, nhưng từ trong đáy
thẳm của tâm thức, làm
sao bạn có thể chấp
nhận rằng hạnh phúc
không khác với khổ đau,
hay hạnh phúc
và khổ đau là một (sinh
tử tức Niết bàn), hay
như Kinh Trái Tim nói:
“sắc tức là không,
không tức là sắc”? Hay
nói khác hơn, là một con
người chúng
ta khó có thể dung hóa hai
ý niệm này làm một.
Vì lẽ, theo tập quán
của suy tư,
ta luôn cho rằng hạnh phúc
và khổ đau là hai yếu
tố hoàn toàn trái
ngược nhau,
giống như thiên
đường và địa
ngục. Vậy thì làm sao
để lĩnh hội
được ý nghiã
“bất dị” và
“tức thị” (không hai,
không không khác) này?
Chúng ta hãy
lấy một thí dụ về
sóng và nước từ
đại
dương. Trên thực tế,
sóng là biểu hiện của
nước và nước là
bản chất của sóng;
sóng khác nước một
điểm duy nhất đó
là sự biểu hiện
nó—trồi lên lặn
xuống liên
hồi theo chuyển động
của gió—mà thôi. Do
đó, về mặt hiện
tượng, sóng và
nước có
vẻ như hai, tức là sóng
khác với nước, nhưng
về mặt bản thể, sóng
và nước là
một, vì cả hai có cùng
một thể: nước.
Đấy là ý nghiã
không hai, không khác của
Bát nhã. Từ thí dụ
này, bạn có thể thấy
rằng khổ đau và hạnh
phúc tuy khác nhau
về mặt biểu hiện, như
sự khác nhau giữa vui và
buồn, nhưng về mặt bản
thể, cả
hai là một vì chúng
đều phát sinh từ một
dòng tâm thức. Sự thật
là, vui cũng ở
tại tâm mà buồn cũng
ở tại tâm. Khổ đau
và hạnh phúc, cho đến
các phạm trù
thuộc cảm thọ, mộng
tưởng .v.v. cũng đều
như vậy.
Tại sao bạn
cần thiết phải suy gẫm
về hình ảnh của
sóng và nước? Vì
rằng càng quan sát về nó
bạn càng thấy rõ hơn
về tác dụng của
sự phân biệt, nhất là
khi sự phân biệt đó
nằm trong cơn khao khát của
sự bám
víu cuồng si vào “cái
tôi” và “cái
của tôi”, cũng như
vào thế giới của dục
vọng. Sự phân biệt dựa
trên căn bản của tự
ngã là con đường
dẫn đến mọi sự
bám
víu, cố
chấp.
Trên thực
tế, nếu cuộc sống của
bạn càng dựa trên
đối đãi phân
biệt chừng nào thì bạn
càng cảm thấy bất an và
căng thẳng chừng
đó. Bạn có thể,
chẳng hạn như, sẽ thấy
rằng những người chung quanh
không tốt
như bạn, không bằng
bạn, hay ở đẳng cấp
khác với bạn, và do
đó bạn không cảm
thấy dễ chịu để
trải lòng ra với họ.
Những cái nhìn như thế
chính là hiện thân
của sự vị kỷ bắt
nguồn từ ý niệm phân
biệt. Khi càng chìm sâu
vào ý niệm phân
biệt, đời sống của
bạn sẽ rơi vào trạng
thái cố thủ; cũng từ
đó, sự nghi ngờ,
suy đoán, và tưởng
tượng không ngừng tuôn
trào trong tâm trí của
bạn và nó sẽ
phủ lấp mọi nguồn ánh
sáng trong thực tại của
tâm. Bạn sẽ trở thành
một con
người bận rộn với
những miên man tư lự, sa
đà với những niệm
tưởng hão huyền
chẳng khác nào một
người điên lâm
râm nói nhảm suốt ngày
mà không biết mình
đang nói cái gì. Và
như thế, chính bạn
đã đánh mất
cuộc sống thực thụ
của mình,
đồng thời đánh
mất luôn cả cái khả
năng “sống tự
tại” giữa lòng hiện
hữu của
mình. Ngược lại, bạn
sẽ có khả năng sống
tự tại trong mọi thăng
trầm của cuộc
đời—phong cách của
bậc hành giả—khi nào
mọi ý niệm phân biệt
nhân-ngã đều
được
rủ bỏ.
Hơn thế
nữa, như đã đề
cập, mục tiêu của Bát
nhã
khi nói đến nguyên lí
“vô phân biệt”
là nhằm để đánh
thức cái cơ đồ
của bản ngã
cá thể; nó luôn luôn
là một chướng ngại
lớn nhất gây ra mọi
nỗi bất an trong
đời sống tâm thức
của bạn. Nó chia rẻ con
người của bạn theo
nhiều cách khác
nhau: được, mất, hơn,
thua, vui, buồn, danh vọng và
không danh vọng. Nó cũng
chính là nỗi ám ảnh
mà bạn cưu mang canh cánh trong
lòng từ khi biết cười,
biết
khóc. Bao bọc chung quanh cái bản
ngã cá thể không gì
khác hơn là những khoen
xích nhân duyên sinh diệt
liên hồi mà bạn cứ
ngỡ rằng chúng là tất
cả những gì
bản thể của bạn. Chính
vì thế, ánh sáng
“vô phân biệt”
của Bát nhã là một thanh
kiếm báu khả dĩ chặt
đứt mọi tơ duyên
lằn nhằn của cái tự
ngã độc tôn để
đưa nó
về với nguyên thể ban
đầu—dòng thực
tại vô ngã luân lưu
bất tuyệt. Dòng thực
tại vô ngã này chính
là bản thể của tâm
thức uyên nguyên, hay nói
khác hơn, đấy
là Phật tính. Vì lí do
này, chúng ta thường nghe
cách ngôn của Bát nhã
rằng
“quay đầu là
bến” (hồi đầu
thị ngạn).
Thật là
một điều thú vị khi
khám phá ra rằng, cuộc
sống thực thụ của
chúng ta không cần đến
một bản ngã cá thể
để hiện hữu, cũng
như “hoa hồng, dẫu bạn
gọi tên nó là gì
đi nữa thì hương
thơm của nó vẫn là
như
thế”. Cuộc sống thực
thụ không cần một danh
tính. Hạnh phúc thực
thụ cũng không
cần một danh tính. Bạn
hãy một lần vô danh tính
để thể nghiệm cuộc
sống đang
là.
4.
Cõi Mơ
Bạn
thân mến,
Từ
đâu ta đến
Chưa khóc
chào đời;
Về đâu ta
sẽ
Khi nhắm
mắt rồi?
Vâng,
một câu hỏi như thế
nghe có vẻ ngây ngô và
không liên quan gì đến
thực tế của
cuộc sống, bây giờ và
ở đây. Nhưng chính
câu hỏi này sẽ là
bàn tay vàng khả dĩ
đánh thức bạn và
giúp bạn vượt qua những
lao đao của mộng tưởng
để trở về với
thế giới bình yên nội
tại vốn chưa từng sinh
và chưa từng diệt. Lời
mà Kinh Trái Tim
muốn nói với bạn
đó là:
“cái bạn đang
là” là một cõi
mơ”, vì tất cả
không hề có một thực
tính nào hết (tất
cả hiện hữu
được biểu thị
là không);
hay nói khác đi bạn và
thế giới của bạn
điều là hiện hữu
của tương duyên mà
thôi.
Ở
đây, những gì trong mơ
hẵn nhiên đều là
phù du, giả tạm. Chúng
không hề có
thực. Như khi mắt bị
nhậm, bạn thấy bông hoa
xuất hiện giữa hư
không; đến khi
mắt hết nhậm, bạn
không còn thấy nó nữa.
Cũng vậy, cảnh trong mộng tuy
là có
thực, nhưng chỉ là thực
của mộng; khi tỉnh giấc,
mọi thứ trong mộng đều
tan
biến! Bản chất cuộc
sống của chúng ta đều
là như thế!
Hãy
lấy một thí dụ. Khi
chưa được sinh ra, bạn
có tên hay không? Khi
được sinh ra
rồi, cái tên của bạn
có phải là tất cả
những gì thuộc về bạn,
hay đơn thuần chỉ
là một danh tính tạm
thời đại diện cho bạn?
Đi sâu hơn nữa, con
người hiện tại
bằng xương bằng thịt
của bạn có phải là
một bản thể bất biến,
hay là nó luôn
luôn biến đổi trong
từng nhịp thở và nó
sẽ bị hủy hoại sau
một thời gian nhất
định? Con người thực
thụ của bạn đã
là như thế huống gì
là những tạo tác từ
thân, miệng, và ý của
bạn. Thế thì, “cái
bạn đang là”, hay cái
mà bạn cho là
“cái tôi”, và
“cái của tôi”
đó há không phải
là một cõi mơ ư!
Vậy tại sao bạn
phải ôm ấp một giấc
mơ huyễn hoặc để
rồi chơi vơi với những
lụy phiền?
Suy
nghiệm như thế nhằm
để thấy rõ rằng:
“
Tất
cả hiện hữu đều
là cõi mơ.” Cho
đến những ý niệm
về sống, chết, nhiễm
ô, trong sạch,
thêm, bớt, vân vân
đều là những giả
định từ mộng
tưởng; chúng là hiện
thân của
sự phân biệt và bám
víu từ một tâm thức
cuồng si mà thôi. Chỉ khi
nào bạn vượt
qua thế giới của phân
biệt (nhị nguyên) này,
thì khi đó bạn sẽ
thực thụ bước
vào một chân trời mới:
hạnh phúc-thực tại,
một thế giới mà ngôn
ngữ của chúng
ta trở nên không còn
hiệu lực.
Vậy
thì làm sao để thức
tỉnh từ cõi mơ? Vâng,
đó là câu hỏi tha
thiết vô cùng mà
chúng ta sẽ tự vấn khi
một mình đối diện
với chính mình. Để
tỉnh thức, bạn
không cần làm thêm một
điều gì hết, việc duy
nhất mà bạn cần thực
tập đó là hãy
nhìn thật lâu và thật
sâu vào những gì đang
sinh diệt chung quanh ta và trong
chính con người của ta,
và hãy thấy như thật
rằng chúng chỉ là một
cõi mơ, vậy
thôi. Thực tập lâu ngày
như thế bạn sẽ tự
tạo cho mình một tâm
hồn khoan dung
vô hạn; nghĩa là bạn
sẽ có khả năng rủ
bỏ những gì không cần
thiết cho cuộc
sống của bạn, đó
là những tâm lý buồn,
giận, ganh, ghét, hơn, thua…Cho
đến khi
nào những tâm ái thủ
đó được từ
bỏ, trái tim từ bi của
bạn sẽ bỗng dưng nở
nụ
trưng bày giữa biển khổ
mênh mông. Và lúc
đó, như thiên nga
đã lìa ao hồ, bạn
sẽ rong chơi tự tại ngay
trên cuộc đời trần
cấu này mà không cần
phải chờ đợi
đến một ngày nào
đó sau khi đã hoàn
tất những khát vọng.
Thử
một lần tự hỏi: cho
đến giờ phút này,
bạn đã cầm chắc trong
tay được cái gì
giữa cuộc sống ngắn
ngủi và không ngừng trôi
chảy này? Thay vì một
ngày nào đó
bạn sẽ phải ra đi với
những muộn phiền:
được, mất, hơn,
thua…, tại sao không
bây giờ và ở
đây sống thảnh thơi
với hạnh phúc-thực
tại, một hạnh phúc
không
bản ngã và nó chỉ
hiện hữu bao lâu bạn
còn sống,
hiểu theo đúng nghĩa của
từ này. Khi bị đắm
chìm trong mộng mị, có
nghĩa là bạn
đã đánh mất sự
sống của chính mình.
5. Bên Bờ
Mộng Tưởng
Bạn
thân mến,
Dựa vào
nền tảng nào để
bạn có thể nhìn thấy
rằng hiện hữu chỉ là
một cõi mơ? Vâng,
đấy
là một câu hỏi then
chốt, như chiếc chìa
khóa vàng, để bạn
mở cánh cửa ảo
vọng-nghìn năm và
bước vào thế giới
thực tại, một thế
giới ở bên kia bến bờ
của
mộng tưởng.
Kinh
Trái Tim,
như bạn thấy đó,
đã dùng một chuỗi
phủ định liên hồi,
cũng còn gọi là phủ
định của phủ
định, để đánh
tan mọi phân biệt về
có, không,
sinh, diệt, về thường,
đoạn, khứ, lai, hay nói
đơn giản là bất
kỳ những bám víu
và phân biệt nào, cho dù
sự phân biệt và bám
víu đó là sinh tử hay
Niết bàn.
Một cách thức phủ
định như thế không
ngoài mục đích xua tan
mọi phân biệt cho
đến những ý niệm
về phân biệt để
đưa bạn về với
thế giới xả ly, vô
niệm. Đấy là
một thế giới “viễn ly
điên đão mộng
tưởng”, là suối
nguồn thực tại, là bản
thể
uyên nguyên vốn không hề
sinh diệt. Điều quan trọng
mà bạn cần phải lưu
ý đó là
thế giới đó không
phải là những gì chỉ
có thể đạt
được sau khi chết, mà
trái
lại, nó luôn luôn hiện
hữu ở đây, ngay tại con
người này và mảnh
đất trần thế
này.
Hãy lấy
một thí dụ, khả tính
nghe của bạn ba mươi năm
trước đây— khi
còn là một hài
đồng—và bây
giờ, tức là ba mươi
năm sau, có khác nhau không?
Không. Nó vẫn là
như thế! Bạn có thể
sử dụng cái khả tính
nghe cũng như bị chi phối
bởi nó theo
nhiều cách khác nhau, nhưng
cái khả tính đó
từ bản chất nó không
hề thay đổi.
Hễ có tiếng động
là khả tính nghe xuất
hiện một cách tự nhiên
không phân biệt.
Cũng vậy, thân thể của
bạn tuy già cỗi theo năm
tháng và chuyển hóa theo
luật
vô thường, nhưng giác
tính của bạn vẫn là
như thế. Nên nhớ rằng,
bạn có tuổi
nhưng tâm hồn của bạn
không có tuổi. Và do
đó, bao lâu bạn còn
giữ được sự
hồn
nhiên, hay nói khác hơn,
lấy sự hồn nhiên làm
nền tảng cho cuộc sống
thì bấy
lâu bạn vẫn trẻ thơ
và vẫn là trẻ thơ.
Bạn đừng bận tâm
quá nhiều vào tuổi tác,
vì bản chất của tuổi
tác không gì khác hơn
là sự chồng chất của
vui, buồn trong
kiếp người mà thôi,
dẫu rằng người ta
thường xem tuổi tác như
một thứ kinh
nghiệm quan trọng. Trong dòng
thực tại của tâm, tuổi
tác không hề có một
ý
nghĩa nào. Nhưng trong thế
giới của mộng tưởng,
tuổi tác quả thực là
ấn tượng
vì nó là sự nối
kết những biến cố
thăng trầm của đời
người.
Nhưng
làm sao để quay lại với
tuổi thơ khi mà tóc của
bạn đã đổi màu
và da của bạn đã
dần khô cứng và sếp
lại từng nếp nhăn?
Vâng, chúng ta cảm ơn Kinh Trái Tim vì
đã cho ta một phép lạ
nhiệm mầu, đó là con
đường sống
xả ly,
không cố chấp và không
bám víu, cho dù sự bám
víu đó được
đặt ra trên căn bản
của khát vọng về một
miền Niết bàn vĩnh cửu.
Bạn có thể sẽ ngạc
nhiên khi cho
rằng khát vọng về Niết
bàn là điều mà con
người hằng mong ước,
vì Niết bàn trên
nguyên tắc khác hẳn với
thế giới sinh tử, vô
thường kia mà? Một suy
nghĩ như
thế, vâng, nghe có vẻ
hợp lý trong suy luận của
bạn, nhưng dòng suy nghĩ
đó rõ
ràng vẫn cưu mang đâu
đó những chiều kích
của tâm phân biệt, nhị
nguyên. Trong
khi đó dòng thực tại
đang mãi miết chảy không
hề có bất kỳ khái
niệm nào về
sinh tử hay Niết bàn. Cũng
như bản chất của
rượu, nó không hề
có đặc tính
“say”
mà do con người “say”
đó thôi. Đó là
lý do tại sao, Kinh
Trái Tim dùng chuỗi phủ
định liên hồi
để kết thúc bằng
một
phán quyết rằng “không
có gì để đạt
được hết” (vô
trí diệc vô đắc).
Vì lẽ, mọi
sự diễn ra trên con
đường giác ngộ
chẳng khác nào một ông
già biến thành trẻ
con khi ông ta quẳng hết gánh
ưu phiền để nô
đùa với chúng.
Cũng
vậy, cho đến khi nào
bạn thực sự chân thành
sống xả ly, nghĩa là
sống vượt lên
trên mọi phân biệt héo
hắt, thì lúc bấy giờ
khả tính của giác ngộ
sẽ thực thụ
hiển bày. Và bấy giờ
bạn là Phật và Phật
chính là bạn. Hay nói theo
ngôn ngữ
của Bát nhã, huyễn mộng
và Niết bàn không hai
không khác (samsāram
eva nirvānam).[viii]
Vâng, điểm đến
của Bát nhã là như
thế. Ố kià! tâm bất
sinh, nó ở bên kia bờ
của
mộng tưởng! Ngay bây
giờ, bạn có thể
đến đó bằng con
đường xả ly, vô
niệm.
Sóng
về xóa dấu
chân không
Bỗng
dưng thuyền đã
bên dòng chân như.
6.
Con Đường Cho Những
Ai…
Bạn
thân mến,
Đến
đây, lại một lần
nữa, bạn hãy tự hỏi:
mục đích cuộc sống
của bạn là gì? Phải
chăng đó là hạnh
phúc và chân lý. Và
ở một bình diện nào
đó, cả hai chỉ là
một.
Vì khi bạn thực sự
trực nhận được
chân lý, khi đó bạn
có hạnh phúc. Hạnh phúc
và chân lý sẽ khác nhau
khi chúng được
đặt trong những quy ước
của tập quán suy
tư, nhưng trên chiều
tuyệt đối, chúng không
hề có khác biệt nào.
Cũng
vậy, khi Người Tỉnh
Thức Bình Yên trực nhận
rằng bản chất của
hiện hữu chỉ là
một cõi mơ, người
đồng thời vượt qua
mọi khổ đau trong ý
nghĩa “sống
tự tại”. Và
nền tảng của lối sống
tự tại, giải thoát mọi
ràng buộc đó đã
được đúc kết
thành những kinh nghiệm tâm
linh quan trọng mà Kinh
Trái Tim bảo
rằng: “Người Tỉnh
Thức Bình Yên, do không
sở đắc nên sống an
lành trong Tuệ
giác Vô thượng và
thoát ly tất cả chướng
ngại. Và rằng, vì không
có những
chướng ngại trong tâm
nên không có sợ hãi
và xa rời những cuồng si
mộng tưởng,
cứu cánh Niết bàn.”
Vâng, đây chính là con
đường dành cho những ai
đang băn
khoăn giữa ngả tư
đường, nơi mà
bên này là trần tục
và bên kia là thánh
thiện.
Nói
khác hơn, bạn đang sống
trong một bối cảnh đa
đoan phân biệt và với
một tâm thức
cũng đa đoan phân biệt,
chính cái đa đoan phân
biệt đó luôn thúc
đẩy bạn đi đến
những lựa chọn mà tự
nó bao giờ cũng chia rẻ
bất kỳ cái gì bạn
thủ đắc trong
tay, cho dù đó là Niết
bàn. Và sự thật là,
trên con đường tìm
kiếm hạnh phúc và
chân lý, càng lựa chọn
thì càng rối ren. Cuối
cùng thì đó vẫn
không phải là lối
thoát thực thụ cho cuộc
sống bình yên nội tại
của bạn. Ở đây,
“vượt qua khổ đau
trong ý nghĩa sống tự
tại” là một con
đường thực tiễn,
khả dĩ đưa đến
hạnh phúc
ngay trong hiện tại.
Tuy
nhiên, trên thực tế,
bạn có thể nghĩ rằng,
nếu bỏ hết mọi đa
đoan phân biệt thì
cuộc đời của bạn
sẽ ra sao đây? Thế giới
sẽ trống vắng ư? Hay
thế giới sẽ hoang
dã ư? Không phải vậy!
Khi mọi đa đoan phân
biệt được đặt
xuống, lúc đó bạn
sẽ
thực thụ tắm mình trong
dòng hạnh phúc-thực
tại, và bấy giờ cũng
là lúc trái
tim đại bi của bạn bắt
đầu thức tỉnh. Chính
trái tim đại bi là nguồn
mạch của
sự sống, nó nuôi lớn
thánh tâm nơi bạn và
cũng là chiếc thuyền từ
cứu độ tha
nhân. Tâm đại bi và
tuệ giác bao giờ cũng là
sự nghiệp của một vị
Phật hay một
vị Bồ tát. Với tâm
đại bi đi vào
đời, bạn sẽ không
mệt mỏi vì trán
ướt đẫm mồ
hôi để làm lợi
ích cho chúng sinh. Và có khi
dòng nước mắt
đại bi cũng chảy dài
trên đôi má chan hòa
cùng cái đau thương
của những kẻ đang lang thang,
thất
thểu bên hè cùng với
đói nghèo và bệnh
tật. Tâm đại bi là
đóa hoa bất tử. Bạn
không thể sống hạnh
phúc nếu thiếu vắng tâm
đại bi.
Nói tóm
lại, khi đã buông bỏ
mọi bám víu, đa đoan,
tâm của bạn sẽ như
hư không chan hòa
cùng ánh sáng, ở
đó sẽ không còn
bất kỳ một tỳ vết
nào của tự ngã, và do
đó bạn
vượt qua mọi chướng
ngại. Kinh nhấn mạnh rằng,
“vì không có những
chướng ngại
trong tâm nên không có sợ
hãi và xa rời mọi cuồng
si mộng tưởng.” Và,
đó chính
là lúc Niết bàn hiển
lộ, hay nói khác đi,
đó là lúc bạn
thực thụ sống Niết
bàn.
Bấy giờ, gia tài bất
diệt mà bạn sẽ mang theo khi
đi vào đời là
tuệ giác vô
thượng và trái tim
đại bi.
Thay
lời kết
Bạn
thân mến,
Kinh
Trái Tim
qủa là thanh kiếm báu
để chặt đứt
phiền lụy thế gian. Tuy
nhiên, chỉ khi nào ứng
dụng những lời dạy
của kinh vào cuộc sống
thực tiễn, bạn
mới “thưởng
thức” được
hương vị nhiệm mầu
của nó. Những thắc mắc
mà bạn đang
cưu mang (nếu có) sẽ
được trả lời
bằng đời sống xả ly
của chính bạn, vì ngôn
ngữ héo hắt của chúng
ta không làm sao diễn
đạt được cái
mà tự thân nó là phi
ngôn ngữ. Cũng như tình
yêu, không ai có thể
diễn đạt nó
được, chỉ có
sự cảm
nhận và thể nghiệm trong im
lặng mà thôi.
Tất cả những gì
mà chúng ta, trong một giới
hạn nhất định, học
được từ Kinh
Trái Tim không ngoài mục
đích làm
cho đời sống của chúng
ta trở nên có ý nghĩa
thực sự, vượt lên
trên mọi đa đoan
của lòng người
để sống tự tại
giữa thế gian và làm
lợi ích cho thế gian.
Trước
khi giã từ bức thông
điệp này, mong bạn hãy
nhớ: “với tinh thần
không sợ hãi,
bạn hãy là người
tỉnh thức bình yên đi
vào thế gian để xây
dựng Niết bàn, vì
quê hương của Niết
bàn là trần thế!” Gate gate
pāragate pārasaṃgate bodhi
svāhā. Nam Mô Đại Bi
Quán Thế Âm Bồ Tát.
Phần
Bốn
NGHI THỨC THỌ
TRÌ TÂM KINH
1. Lời
tán
Phật và cúng dường Tam
Bảo:
Con nay
thắp nén hương lòng
Dâng Ba Ngôi Báu vô cùng
thiết tha
Chắp tay kính lạy Phật
đà
Từ lời trần thế tâm
hoa cúng dường.
Nam mô Hương
Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha
Tát (3 lần)
2. Đảnh
lễ
cúng dường:
Nam mô
thế giới mười
phương,
thường trụ vĩnh cửu,
vô thượng chư Phật.
Nam
mô thế giới mười
phương, thường trụ
vĩnh cửu, vô lượng
nghĩa Pháp.
Nam
mô thế giới mười
phương, thường trụ
vĩnh cửu, vô lượng
thánh hiền.
3- Lời
khai
kinh:
Kính
lạy Thế Tôn, Đấng
Tuệ giác bình đẳng
vĩ đại!
Như mặt trời rực sáng
ở phương Đông,
Chánh Pháp của Ngài
nhiệm mầu vô thượng.
Con nay xin nương tựa để
đi vào hiện quán
Sống trong sinh thức của tuệ
giác ngàn xưa
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật (3 lần)
4- Kinh
Trái
Tim Tuệ Giác Vô Thượng
(tụng)
1- Khi tiến
sâu vào nguồn mạch của
Tuệ giác Vô
thượng, Người Tỉnh
Thức Bình Yên soi sáng
như thật rằng tự tính
của năm hợp thể
đều là Không, liền
thoát ly mọi khổ ách.
2- Này người con dòng
Sari, hình thể chẳng khác
chân không, chân không
chẳng
khác hình thể; hình thể
là chân không, chân không
là hình thể. Cảm xúc,
niệm
lự, tư duy và ý thức
đều là như vậy.
3- Này người con dòng
Sari, tất cả hiện hữu
được biểu thị
là không, nó không
sanh, Không diệt, không nhơ,
không sạch, không tăng,
không giảm.
4- Vì thế, này
người con dòng Sari, trong Không
không có hình thể, không
có cảm
xúc, không có niệm lự,
không có tư duy, không có
ý thức; không có mắt,
tai,
mũi, lưỡi, thân và
ý ; không có hình thể,
âm thanh, hương thơm, mùi
vị, xúc
chạm và hiện hữu. Không
có đối tượng
của mắt, cho đến không
có đối tượng
của ý
thức ; không có minh, không
có vô minh, không có sự
chấm dứt của minh, cũng
không có sự chấm dứt
của vô minh ; cho đến,
không có tuổi già và
sự chết, cũng
không có sự chấm dứt
của tuổi già và sự
chết ; không có khổ đau,
không có
nguyên nhân của khổ đau,
không có sự chấm dứt
khổ đau, và không có con
đường
đưa đến sự
chấm dứt khổ đau; không
có trí giác cũng không
có sự thành tựu trí
giác.
5-
Người Tỉnh Thức Bình
Yên, do không sở đắc
nên
sống an lành trong Tuệ giác
Vô thượng và thoát ly
tất cả chướng ngại.
Và rằng,
vì không có những
chướng ngại trong tâm
nên không có sợ hãi
và xa rời những
cuồng si mộng tưởng,
cứu cánh Niết bàn.
6- Tất
cả chư Phật trong ba
đời đều nương
vào Tuệ
giác Vô thượng mà
thành tựu chánh giác.
7- Vì
thế, nên biết rằng Tuệ
giác Vô thượng là
sức
thần kỳ vĩ, là sức
thần của trí tuệ vĩ
đại, là sức thần cao
tuyệt, là sức thần
tối hậu, vô song, có
thể trừ diệt tất cả
khổ đau. Sức thần
thoắt sinh từ Tuệ
giác Vô thượng này
là sự thật, là chân
lý. Sức thần có năng
lực tối thượng
đó
được tuyên nói trong kinh
Trái Tim Tuệ Giác Vô
Thượng rằng:
"Đi qua,
đi qua,
Đi qua bờ bên kia,
Đã đi qua đến
bờ bên kia, svāhā!"
5- Lời
nguyện:
Bàng
hoàng về cõi vô biên
Lắng nghe tiếng gọi nơi
miền quê xưa
Thì thầm cho cuộc đong
đưa
Lời Tâm kinh, vỡ mộng
xưa, Niết bàn.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm
Bồ tát.
Nguyện rằng :
Hôm nay chúng con
giữa lòng pháp giới
thọ trì Tâm Kinh
Cầu cho : ....... (đọc lời
nguyện tùy ý cầu an,
cầu siêu...)
Cuối xin Đấng Đại
Từ Bi
Dũ ánh quang minh chiếu giám.
6- Hồi
Hướng:
Các
trời A tu la
Và Dược xoa vân vân
Ai đến nghe Phật pháp
Tất cả hãy hết lòng
Hộ trì Phật pháp ấy
Làm cho thường còn mãi
Bằng cách thường tinh
tấn
Thực hành lời Phật dạy
Những người có
đức tin
Đến đây nghe Phật
pháp
Hoặc ở trên mặt
đất
Hoặc ở trong không gian
Với thế giới loài
người
Hãy thường hành từ
tâm
Bản thân thì ngày
đêm
Sống đúng với Phật
pháp
Nguyện cầu mọi thế
giới
Luôn luôn thường an ổn
Bằng cách phước và
trí
Đều đem làm lợi
người
Để bao nhiêu vọng nghiệp
Đều được tiêu
tan cả
Siêu thoát mọi khổ đau
Đi về Đại Niết
bàn
Hãy xoa khắp cơ thể
Bằng hương thơm giữ
giới
Lại mặc cho cơ thể
Bằng y phục thiền định
Rồi trang điểm tất cả
Bằng hương thơm tuệ
giác
Thì bất cứ ở
đâu
Cũng thường
được an lạc.
Nam
mô các vị Hộ pháp,
các vị Bồ Tát ma ha tát
(3 lần)
Nguyện đem công
đức này
Hướng về khắp tất
cả
Đệ tử và chúng sinh
Đều trọn thành Phật
đạo. (lạy 3 lạy)
Phụ
Lục: I
Message from the Heart Sutra
(American
version-2007)
Introduction
Dear Friends
in Dharma,
Ten
years ago, when I first wrote the Message
from the Heart Sutra, I did so with all sincerity. While
writing, I told
myself that, despite the risk in the writing, it is too interesting to
discard.
However, I have never felt truly satisfied with that
message—I really don’t
know why! Now, ten years later, having read that old message again, I
felt the
need to return to the same task once more. The result of these efforts
is the
present message from the Heart Sutra
that you hold in your hands at this moment.
While
writing this message, I did not have the consciousness that I was
defining or
explaining the meanings of the Prajñāpāramitā philosophy, but I did so from a
deep inspiration of spirituality—one that was so deep it
sometimes caused me to
burst into tears. In particular, when I deeply penetrated into the words
of the Buddha; I
perceived them to be so “beautiful” that they did,
in fact, rescue me, giving
me an inner peace to which I cannot compare anything in this world.
I hope that, through this message,
serving as a
spiritual motivation, we may be able to help one another overcome all
vicissitudes of our mundane complexity and attachments and return to
the life
of true happiness without self. Please read this message, in pleasure
as well
as in sadness, in order to warm up your heart in this profane world.
Hopefully,
your smile will drive away the sufferings of sentient beings in the
three
thousand worlds.
Namo
Avalokitésvara Bodhisattva
Los Angeles, August,
2007
Khai Thien
1.
The Planet
of Light
Dear Friends,
The message you are holding in hand is
“part of the
quintessence” extracted from the Prajñāpāramitā Hrdaya Sutra (the
Heart of the Perfect Wisdom). With this phrase—“part of the quintessence”—I
would like to stress that we are observing
the transcendent and flawless beauty of the Prajñāpāramitā not with the highest wisdom,
but with a limited dimension of the mind that continues to be stirred
by gain,
loss, win, failure, etc. With such a mind, how can we appreciate the
perfect
beauty of the Prajñāpāramitā?
However, just as with the moonlight, those who have eyes are able to
see it.
The beauty of the moonlight depends on the eyes viewing
it—or, more exactly,
the mind of each individual. We are here together sharing the sublime
message from
the Prajñāpāramitā not in a theoretical framework,
but from the reality of spiritual life. Certainly,
those who are able to
perceive the meanings of the message from the Prajñāpāramitā—even just a part of
it—will
have a truly peaceful and happy life—a life, as the Heart
Sutra says, “going far beyond all perverted views,
all confusions and
imaginations,” a life of being free from the succession of
sufferings.
In
order to penetrate deeply into the mystical life of the
Prajñāpāramitā, we first need to step into the
planet of light at
least once in our lives, even right at this moment for the living life
of the Prajñāpāramitā is the very light of wisdom.
This is the special light that goes beyond all limits of any mundane
spirit; it
is the wisdom’s light (prajñā) that shines on the other shore (pāramitā) of any ordinary perception. It
is because of this wisdom’s light that a suffered
“soul” can be rescued, a real
life of happiness can be established; most of all, an enlightenment may
be able
to blaze up in the current of our mind—not at the end of life
or in the other
side of human existence, but right in this body and this world.
We have different kinds of light:
sunlight,
moonlight, biological light, light from nature, light of science, light
of
knowledge…but here the light of “the wisdom on the
other shore” (prajñāpāramitā) is an extraordinary light of
spirituality that cannot be perceived through reasoning or
intellectualism. The
only way through which we can obtain this pāramitā wisdom is the personal practice
and experience of our own being. The most essential knowledge of the
here and
now is the realization that nothing in our worldly
happiness—not love, money,
fame, position, or power—is secure or certain. Indeed,
everything is
ever-changing in accordance with the law of impermanence. Every
outburst of
anger or envy that arises in our mental currents has the power to change everything
in just a moment; what we call happiness, love, fame, etc., may
transform into
suffering. The life of our worldly happiness would be extremely
unstable were
it not illuminated by the light of wisdom (prajñā).
What then
is the characteristic of the prajñā
and where does it come from?
Prajñā is itself a special light of
wisdom that transcends all individual prejudice and attachment to the
concept
of “existence,”
“non-existence,” “birth,”
“death,” “permanence,”
“annihilation,” “identity,”
“difference,” “coming,” and
“going.” Since its
nature is beyond all such attachments, the Prajñā is defined as the wisdom on the
other shore (prajñāpāramitā)
or the wisdom of non-self (anātman). It is through this nature
of transcendence
of all attachments that the Prajñā is able to carry within itself
an unlimited ability of true freedom. Take, as an example, when you
hold
something firmly in hand; that is to say, the hand itself no longer has
the
ability to hold any other thing because it is occupied with the thing
you are
holding. Contrastingly, when you hold nothing in hand—namely,
the hand is now
absolutely free from all attachments—it holds in itself an
unlimited ability;
that is, it can take anything it wants. In the same way, when the mind
is not
governed or controlled by greed, hatred, defilement, or attachment to
self,
then the reality of the mind can flow like the source of radiant light
from the
sun, limitless and unobscured. This is the special kind of
“supernatural power”
of the non-attached mind. Thus, the transcendent light of Prajñā is formed by the mind, which is
free from any individual prejudice and attachment; it is the mind of
purity and
equanimity (upeksā)[ix].
In fact, reality of the mind always
carries within
itself two fluxes of energy: the light (kusala) and
the dark (akusala).
The light energy is loving-kindness, compassion, sympathetic joy, and
equanimity, while the dark is craving, hatred, grasping, attachment,
and/or any
defilement. For this reason, Prajñā is called the planet of light,
a planet without any shape of discrimination and attachment, or a
planet of the
renounced life (upeksā). In addition, you are invited, from
the beginning, to step onto the
planet of light in order to perceive the sublime message from the Prajñāpāramitā because only in this plane may
we listen to the voice of the wisdom’s light.
In brief, in practicing and
experiencing the life
of prajñāpāramitā, you don’t need to pay too
much
attention to the world of linguistic concepts; the only thing you need
to
practice is living the life of self-control, free from delusion and
attachment—particularly attachments to the immortal desire,
because such attachment
is nothing more than the embodiment of the self-love or egocentric
view. The
most important thing to keep in mind is that we lose nothing in
practicing such
a life. Indeed, it is the non-attachment and equanimity that make our
lives
much happier and more peaceful; the more we practice non-attachment,
the
happier we will be. The truth is, whenever all the burdens of
attachment—attachment to gain, loss, win, failure, fame,
power, etc.—are
released in our minds, we are then truly free and able to enjoy true
happiness
right here and now.
2.
From the Crystal
Eyes
Dear
Friends,
How
it is possible, in the world of anxiety, discontentment,
dissatisfaction, and
even suffering, to live a happy life by practicing equanimity and
non-attachment? Such a sincerely touching question has arisen from the
practical as well as the greatest challenge on the search for true
happiness.
Don’t worry! The message from the Heart
Sutra provides you with the basic steps (principles) for
practicing the
renounced life and appreciating the true happiness of the non-self
immediately,
in the here and now, despite your unsatisfactory and unfavorable
conditions.
These basic steps originally emerged from “the crystal
eyes” with which the
Bodhisattva Avalokitésvara practiced successfully and overcame
all troubles and
sufferings.
However,
in order to practice these basic steps, you must first cleanse your
eyes and
make them pure and shining. Let your eyes return to their original
state—that
is, no longer limit your eyes by “what you are”!
What is
“what you are”? What you are is your present person,
identified through
five elements: body, feeling, perception, volitional actions, and
consciousness. Here, the direct causes that make you unhappy,
distressful, and
uneasy as well as prevent you from enjoying living happiness are the
“dirtiness” in your eyes. In other words, it is the
attachment from the wrong
view of self. You are living with these truths:
·
“I worry about my body
because it changes constantly.”
·
“These feelings are
either what I long for or what I don’t like; I like to feel
this way or that
way.”
·
“I am passively
immersed in the world of obsessions, confusions, thoughts, images, or
feelings
(such as pleasure, sadness, satisfaction or dissatisfaction,
etc.)”
·
“I was forced to wander
with old experiences of the past or illusive desires for the
future.”
·
“I am conscious of
existence, but my consciousness is always out of control; like a fish
out of
water, it acts in an uncontrolled manner.”
Such
states of your mental life
are, indeed, a manifestation of your own inner attachments, pushing you
into a
reality of both fear and hope. Actually, fear and hope are the two
permanent
factors in our minds; they exist in every moment, even in our dreams.
Clearly
sufferings are nothing other than living in such a state. Therefore,
your eyes
will be able to return to their crystal state only when those
attachments from self-view are
released. Only the pure
eyes are able to observe existence as it is without any distortion from
personal prejudice.
How can
you let your eyes return to their
crystal state?
As
mentioned from the beginning, you need to enter the planet of light at
least
once in your life to see the truth because there no dark energy such as
craving, hatred, pride, etc., exists. To step onto the planet of light
is not,
in principle, a difficult or serious task; to get there, you need not
to do any
extra work, but cut short (or lessen) your attachment. That is all.
Even in
this very moment, “deleting” all your attachments
and letting your light-source
of mind flow in tranquility, your eyes will immediately reach the
crystal
state. In order to practice this task, however, you need to consider
the
essential ideas:
-The nature of life is impermanent; it
is impossible to
make it permanent. Therefore, you should, in the stream of
life-transformation,
welcome together both the good and the bad as they come into existence
without
any self-resistance. Release yourself and listen to the breath of life!
-The purpose of human life is
happiness and, further,
truth. Thus, practicing renunciation of the attachment to
“self” or “ego” in
one way or another may give rise to your true happiness. So why not
practice
that renunciation to live a happy life?
-Human life is, by nature, an
aggregate without any independent
entity. Thus, it always consists of both the negative and the positive.
Therefore, if you just follow what you like and run away from what you
don’t
like, you become a passive person. Conversely, if you are able to
welcome both
the good and the bad together, you become a great person. The truth is,
whenever you are able to control yourself, you are able to control the
world.
These
thoughts, among others, will help you first cleanse your eyes and then
establish for yourself an inner peace. The Bodhisattva
Avalokitésvara, with his
crystal and pure eyes, truly perceived the nature of this body, this
feeling,
this perception, this thinking, and this consciousness to be
conditional
aggregates, arising and ceasing from moment to moment. The concept of
“self” or
“ego” is but an illusion. In seeing such a truth,
the Bodhisattva overcame all
troubles and sufferings.
3. Ocean and Waves
Dear
Friends,
In
order to have the ability to welcome freely both the good and bad
together, you
need to hold in hand a special principle of Prajñāpāramitā: the
“non-discrimination” or
“non-distinction.” The concept of
“non-discrimination” here of course does not mean
“not knowing what is good or
what is bad,” but in stead it is a
“challenge” to the attachment to the independent
self of each individual—or simply, the egocentric view.
The
question that arises here is whether you know that life is impermanent.
You may
have no difficulty in accepting this truth. However, from the bottom of
your
mind, you may ask how it is possible for you to agree to such a concept
of the Prajñāpāramitā’s
“non-discrimination,” which
says that
“happiness does not differ from
suffering” or that “happiness and suffering are the
same.” Or, as the Heart Sutra
says, “Form is not different
from emptiness, emptiness is not different from form; form is
emptiness, and
emptiness is form.” As an ordinary person, you definitely
find it difficult to
combine such two quite separate ideas into one because our habit of
thinking
allows us to consider the two ideas, happiness and suffering, as
something
totally different and contrary to each other, like heaven and hell. So
how can
we perceive the meaning of “non-differential” and
“identical” as mentioned in
the Heart Sutra?
We
here take an example of water and waves from the ocean. In reality,
waves are
manifestation from water, and water is the very nature of waves; the
only point
that makes waves different from water is the manifestation of waves,
going up
and down according to each movement of the wind. Therefore, although
water and
waves seem to be different phenomena, both share the same nature:
water. That
is all about the “similarity” and
“difference” between water and waves. This
example may help us understand the meaning of
“non-differential” and
“identical”
as mentioned in the Heart Sutra.
The
truth is, if we look at these phenomena, suffering and happiness are
quite
different from one another, like pleasure and sadness. However, if we
look
deeply into their nature, we can see that both suffering and happiness
arise
from the same foundation: the mind. Indeed, pleasure arises from the
mind, as
does sadness. Suffering, happiness and even other categories, such as
feeling
and perception, are all manifestations from the mind.
Why
should you think about the metaphor of water and waves? The more you
observe
the water and waves, the more you understand the effectiveness of the
dualistic
discrimination, particularly when this discrimination arises in the
thirst of
your crazy attachment to the “I,”
“mine,” and “my self” as well
as to the world
of desires. Discrimination emerging from the self-view—i.e.,
the “I,” “mine,”
and “my self”—is the very way leading to
stubborn attachment, which eventually
ruins your ability of living peacefully and free of all delusions.
In
reality, the more you base your way of life on this dualistic
discrimination,
the more stressful and uncomfortable you will to be. You may, for
example, see
that people living around you are not as good as you; they are either
less
important than you or from a lower class when compared with yours.
Correspondingly, you may find it hard to open your heart and your mind
to them.
Such points of view, clearly, are embodiments of egocentrism arising
from the
notion of dualistic discrimination. The truth is, the more you immerse
yourself
in discrimination, the more selfish your life will be. Moreover, from
this
discrimination, doubt, judgment, and imagination constantly spurt out
in your
mind, covering all sources of light energy in the reality-stream of the
mind. You
then become a person whose mental life is immersed in the unceasing
thinking of
indefinite subjects, like a crazy man who speaks nonsense all day long
without
knowing what he is saying. Consequently, living in such a status, you
lose the
life of yourself and simultaneously ruin the ability of being free and
peaceful
in the stream of life. On the contrary, you have the capacity to live
freely
and calmly in the rise and fall of life—the lifestyle of the
noble
practitioner—whenever all notions of dualistic discrimination
are given up.
Furthermore,
as we have mentioned, the end goal of Prajñāpāramitā in speaking of the principle of
“non-discrimination” is to
awake you from the trap of the
individual self, which is always the greatest obstruction causing all
kinds of
anxiety and suffering in your mental life. Actually, the individual
self is
that which variously separates you into different modes: gain, loss,
success,
failure, love, hatred, fame, shame, etc. This individual self is also
an inner
obsession with which you always carry in mind from the first day when
you
understand crying and laughing. Surrounding this individual self is
nothing
other than the chain of conditions that constantly rise and fall in
every
moment, although you think that they are all about you. For this
reason, the Prajñāpāramitā-light of non-discrimination is
the precious sword able to cut off all bonds of self-love and
self-pride and
let the mind return to its original state of purity—the
reality-stream of
non-self, which is endlessly flowing. This reality-stream of non-self
(also
called the Buddha-nature) is indeed the essential nature or
fountainhead of the
mind. For this reason, an expression of the Prajñāpāramitā stresses that “the shore is
here as you turn your head.”
The discovery that our real lives do
not actually need a “self” to exist is
enchanting—just as in the case of a
rose, you may call it by any other name, but its sweet essence remains
the
same. Your real life does not need a name; your real happiness does not
need a
name either. Be nameless once to enjoy your real life!
4. Dream
Dear
Friends,
Where are you from
When you
weren’t born
Where will
you go
When this
life doesn’t go on?
Yes,
this question sounds naïve and quite alien to your practical
life in the here
and now; however, it is a golden hand that wakes you up and helps you
overcome
the rocky world of illusive imagination so that you can return to your
own
inner peace that is, by nature, infinite and endless. The Heart Sutra would like to share an idea
with you: “what you are”
is just a dream! Not
everything has an independent entity (the characteristics of all things
are
empty); in other words, you and your world exist as an existence of
inter-being
made up by countless conditions.
Indeed,
what you have and what you are in your dreams are definitely ephemeral
and
provisional, but they are absolutely not real. For instance, when your
eyes are
sick, you see multiple flowers flying throughout in the sky, but when
your eyes
stop being sick, those flowers instantly disappear. Similarly, in the
reality
of a dream you feel that everything is true, but it is true in the
dream only;
once you wake up, all that has happened in your dream no longer exists.
The
same can be said of nature of life.
Some
questions may help you understand the nature of why we say that “what you are” is just a dream!
Did you
have a name before being born? Once you were born, was your name all
about you
or just simply a label that represents you in identifying you from
others?
Furthermore, is your body (of bone, flesh, and blood) a perpetual
substance or
is it ever-changing and must be extinguished at a certain time? Truly
such
questions show that your real person is not perpetual, let alone your
physical,
verbal, and mental actions. Thus, should it be that “what you
are” or what you
called the “I,” “mine,” and
“my self” is just a dream? If this be true, it is
really foolish to trade your happiness for suffering by trying too hard
just to
embrace the notions of the unreal things: “I,”
“mine,” and “my self”!
Thinking
in this way helps understand that “all existences are just a
dream,” even the
notions of birth, death, defiled, pure, increased, decreased, etc. They
are all
hypotheses of our imaginations, simply the embodiments of attachment
and
discrimination from the mind. Only by transcending all these dualistic
discriminations can we step into a new horizon, the reality of true
happiness
in which all our linguistic functions become ineffective.
How
then can you wake up from the world of dreams? Indeed, this is an
extremely
earnest question, particularly when you are facing yourself alone. To
be awake,
you don’t have to do anything extra at all, only practice
looking deeply and
durably into what is rising and falling around you as well as inside
your body
(your breath, for instance). In other words, try to look deeply into
things as
they really are. Practicing this over a long period will help you see
that life
is but a dream. To do the same thing, day in and day out, you will
certainly
create for yourself a great tolerance and generosity, giving you the
ability to
give up what is needless for your life—sadness, hatred, envy,
craving,
grasping, etc.—or simply destroying the dark energy, as we
have already
mentioned. Once these cravings and graspings are renounced, your heart
of
compassion will blossom right in the ocean of suffering. Like a swan
leaving
the lakes, you will live a peaceful life free from all delusions and
worldly
bondage right in this body and this world. You don’t have to
wait until
completing all desires in this human world and ascending to heaven
because such
a journey will never happen.
Just
ask yourself what, until this very moment, have you grasped firmly in
your hand
during a short and ever-changing life of humanity? Instead of someday
leaving
the world with your uncompleted desires full of gains, losses,
successes,
failures, etc., why don’t you here
and
now live a peaceful life with the present
happiness—a happiness without
self? The truth is, you may enjoy this non-self happiness only when you
are alive as such. It is important
to note
that, when you are immersed in the world of dreams and imagination, you
lose
your real life.
5. On the Other Side of Imagination
Dear
Friends,
What
foundation enables you to see that existence is just a dream? This is a
crucial
question, a golden key that opens the door of the thousand-year
illusion and
allows you to step into the reality-stream of happiness, a state that
exists on
the other shore of imagination only.
The
Heart Sutra, as you have seen, has
used a series of consecutive negations also known as negation of
negation in
order to break down any notion of discriminations such as existence,
non-existence, birth, death, annihilation, permanence, similarity,
difference,
coming, going, etc. More simply, it is the negation of any
discrimination and
attachment, even when that discrimination or attachment is identified
as
samsāra (sentient world of birth and death) or
nirvāna (liberation from birth
and death). Such a mode of negation is used to destroy our world of
conceptual
and individual distinctions and let us return to the blissful state of
non-discrimination, purity, tranquility, and equanimity—the
world without
confusion and imagination, the fountainhead of living reality
without self. The most important thing to note is that we
may able to obtain that world of non-discrimination not at the end of
our
lives, but right in this moment, in the here and now, within this body
and this
mundane world.
For
example, the auditory sense of you ten years ago, when you were a young
adult
or even a little kid, and now (i.e., ten years later)—is it
different or the
same? Yes, it is still as such. Your auditory ability
may change over the course of time, but your auditory sense—like
the original source of mind
that goes beyond all notions of birth or death—never changes,
although your use
of it may vary according to different circumstances or you may be
governed by
it even in silence. The fact is, whenever the noise appears, the
auditory sense
also appears, simultaneously and naturally. The nature of your auditory
sense
is without distinction; it accepts both the good and the bad noises
freely and
naturally. Similarly, your body changes, getting old in the course of
time
according to the law of impermanence; however, your true mind, also
known as
the Buddha nature, remains the same. It is important to note that,
although you
age, your mind doesn’t. Therefore, as long as you are able to
keep your
childish mind, or take the childish mind as the foundation of your
life, you
remain the authentic merry child living in a beautiful and peaceful
world. You
should not become attached to the concept of age too much because the
nature of
age is nothing more than the accumulation of pleasure and sadness in
life, although
one often considers age or agedness as an important factor. In the
reality of
mind-stream, age or agedness has no special meaning; it has nothing to
do with
the reality of mind-stream. In the world of confusion and imagination,
however,
agedness is quite impressive because of the connection linking all
rising and
falling events in one’s life.
Yet how
can you return to your childhood when your hair’s color has
changed to gray and
your skin has transformed into wrinkled folds? Yes, here we thank the Heart Sutra for giving us the miracle
that is the way of equanimity and non-attachment. Even our attachment
is based
on the desire to reach the perpetual world of nirvāna. You may
be surprised at
why nirvāna—the greatest nobility any practitioner
wants to obtain and, in
principle, the world of blissfulness transcending any state of birth
and
death—is not considered the object of even a sincere desire.
This is because
when we perceive nirvāna as something completed different from
samsāra, as is
recommended by our habit of thinking, such a perception sounds rational
and
correct according to our intellect; however, in reality such perception
still
carries within itself a dimension of dualistic discrimination whereas
the
stream of reality endlessly flows, free from any discrimination of
either
samsāra or nirvāna. Like the nature of wine, it
doesn’t have the “drunk
essence”; only man makes himself “drunk.”
Likewise, the terms and definitions
of both samsāra and nirvāna are used here as a
conventional truth, not an absolute
truth. For this reason, in the Heart
Sutra, a series of consecutive negations is employed
skillfully to finally
end with the proclamation that “There is no knowledge and no
attainment
whatsoever” (na
jñānaṃ na prāptir
nābhisamayas).
A true awaking appears in our minds on the way to enlightenment, like
an old
man suddenly transformed into a little kid when he himself places down
all
burdens of attachment in his mind to play with the children.
Similarly,
until you have truly and sincerely lived in equanimity and
non-attachment—i.e.,
beyond all barren discriminations—your capacity of
enlightenment cannot become
true. Only then will you become a Buddha and Buddha will become you. In
the
language of Prajñāpāramitā, we may say that samsāra and nirvāna
are not differential (samsāram eva
nirvānam). Yes, such is the
destination of Prajñāpāramitā.
There, on the other shore of imagination, the mind is free from birth
and
death! The journey there succeeds through non-attachment and
non-discrimination.
The
waves come and erase the empty trace,
Suddenly,
the boat arrives on the other shore of Tathagata!
6. A Way for Those
Who…
Dear
Friends,
Once
again, you should ask yourself what is the purpose of your life? Should
it be
happiness and truth? To a certain extent, happiness and truth are the
same;
when you discover truth, you simultaneously achieve happiness. In our
habitual
thinking and intellect, happiness and truth conventionally differ; in
the
ultimate truth, however, they are not at all different from one another.
Likewise,
when the Bodhisattva Avalokitésvara directly perceived that
existence is just a
dream, he simultaneously overcame all troubles and sufferings in the
sense of
“living free” from all confusions and delusions in
the world. The foundation of
such a noble life of freedom has been summed up as the principle of
spiritual
experience expressed in the Heart Sutra:
“By reason of non-attainment, the Bodhisattva dwelling in Prajñāpāramitā
has no
obstacles in his mind. Because there are no
obstacles in his mind, he has no fear, and going far beyond all
perverted
views, all confusions and imaginations, reaches the ultimate
Nirvāna.” This is
the way for those who are hesitating at the crossroads separating life
into two
parts prejudicially: the mundane and the divine.
In
reality, we live in the complexity of discriminations with a mind that
is also
covered by the complexity of discriminations. It is this complexity of
discrimination that forces us into the world of choices; it is the
choice that
always carries within itself an inclination to distinguish and divide
any thing
you hold in hand, even though that is nirvāna. The truth is,
on the path to
happiness and truth, the more you want to choose, the more confused you
will
become. As a result, the way of choices is not a real exit leading to
inner
peace. Overcoming sufferings in the sense of “living
free” from all confusions
and delusions in the world is a practical way of Prajñāpāramitā,
capable of leading to the present happiness, here and now.
However,
you may wonder what will happen to your life if you give up all the
complexity
of discriminations? Won’t the world be empty? Ruined? No, it
is not like that.
When all the complexity of discriminations are set down, you will truly
put
yourself in the reality-stream of happiness while your heart of great
compassion will simultaneously be awaked. The heart of great compassion
is the
very source of life; it nurtures your sainted mind and, like a guardian
boat,
saves the lives of others as well. The great compassion and perfect
wisdom (prajñāpāramitā) are always the career of a Buddha or
a Bodhisattva.
Living with the great compassion, you never feel fatigued or bored in
helping
and benefiting others, even when your forehead is full of sweat.
Streams of
tears may sometimes flow down your cheeks in harmony with the
sufferings of
others or of those who are wandering the streets with hunger and
sickness. The
great compassion is an immortal flower. Indeed, you cannot live a life
of true
happiness without the heart of great compassion.
In
brief, until you give up all complexity of discrimination, your mind
will be as
light and space will come together. No trace of self can exist in such
a mind
free from all attachments; therefore, you overcome all illusive
obstacles. The Heart Sutra stresses
that, “Because
there are no obstacles in his mind, he has no fear, and going far
beyond all
perverted views, all confusions and imaginations, reaches the ultimate
Nirvāna.” This is when nirvāna is unveiled
in this mundane world—the time you
truly live a nirvāna life. The inheritance you now accept and
move forward in
life is the heart of great compassion and perfect wisdom.
Ending
words:
Dear
Friends,
The
Heart Sutra truly is a precious
sword
with which we can cut off all afflictions in our world. However, only
once you
apply the teachings from the sutra into your daily practice, you will
truly
appreciate the miracle flavor of it. The questions that may appear in
your mind
(if any) will be answered by your own practice of equanimity and
non-attachment
because our barren language is unable to describe that which is itself
beyond
language. Like love, nobody can describe it exactly, except the inner
experience in silence. What we may, to a certain extent, study from the
Heart Sutra is to make our life
become
significant, transcending all complexity of the profane mind to live a
life
free from all delusions and afflictions and to benefit all sentient
beings.
Before leaving this message, please keep in mind that, with the
fearless spirit,
you—as a peacefully awake person—enter the world to
build nirvāna because the
home-country of nirvāna is nowhere else but this mundane
world!
Gate gate pāragate
pārasaṃgate bodhi svāhā!
Namo Avalokitésvara
Bodhisattva.
Phụ
Lục: II
Words
of the Heart of Wisdom
Khải Thiên
Bạn thân
mến,
Lời dưới
đây được viết
từ những xúc cảm
thành
kính sâu xa
của tác giả khi qùy trước
cái đẹp kỳ vĩ
và nhiệm mầu
của
kinh Trái Tim
Tuệ Giác Vô Thượng.
Dear Friends in Dharma,
The
following words stem from the deeply esteemed respect
of the author as he knelt in
front of the
miracle sublime of
the
Prajñāpāramitā Hrdaya
Sūtra.
Los
Angeles August, 2007
- Cuộc sống
hạnh phúc thực thụ của
bạn vốn không cần
đến một bản ngã
để hiện hữu.
(Your
true life of happiness does not actually need a
“self” to exist.)
- Tự ngã là cái
mà nó luôn chia rẻ con
người của bạn theo
nhiều cách khác nhau:
được, mất, thành,
bại, tình yêu, hận thù,
danh vọng, và tủi nhục.
(The individual self is that
which variously
separates you into different modes:
gain, loss, success, failure, love, hatred, fame, and
shame.)
- Bạn
có thể sống một cách
bình yên, tự tại giữa
đời sống thăng trầm khi
nào mọi ý niệm về
tự ngã được
buông bỏ.
(You are able
to live freely and peacefully
in the rise and fall of life whenever all notions of self are given up.)
- Khái
niệm về tự ngã thực
chất chỉ là một ảo
tưởng.
(The concept
of “self” is but an illusion.)
- Bản
ngã cá thể, nó luôn
luôn là chướng ngại
lớn nhất gây nên mọi
nỗi bất an và đau khổ
trong cuộc đời của
bạn.
(The individual self is
always the greatest
obstruction causing all kinds of anxiety and suffering in your life.)
- Sự
thật là, càng đắm
chìm trong phân biệt, cuộc
sống của bạn càng trở
nên ích kỷ.
(The truth
is, the more you immerse yourself
in discrimination, the more selfish your life will be.)
- Do
sự phân biệt của tự
ngã mà những nghi ngờ,
phán xét, và tưởng
tượng không ngừng tuôn
trào trong tâm trí của
bạn, chúng phủ lấp mọi
nguồn sáng trong cuộc sống
của bạn.
(From the
discriminations of self, doubt,
judgment, and imagination constantly spurt out in your mind, covering
all
sources of light energy in your life.)
- Khi sa
đà trong những suy tưởng
miên man bất định, bạn
trở thành một gã
điên, y cứ nói nhảm
suốt ngày mà không biết
mình nói cái gì.
(Immersed in
the unceasing thinking of
indefinite subjects, you become a crazy person who speaks nonsense all
day long
without knowing what he is saying.)
- Càng
để lối sống của
bạn dựa trên phân biệt,
bạn sẽ càng căng thẳng
và bức bách.
(The more you
base your lifestyle on
discriminations, the more stressful and uncomfortable you will to be.)
- Thật
là khờ dại khi phải
chấp nhận khổ đau
để đổi lấy
hạnh phúc bằng cách ráo
riết ôm lấy những ý
niệm hão huyền về
“cái tôi”,
“cái của tôi”,
và “cái tự ngã
của tôi”.
(It is really
foolish to trade your happiness
for suffering by trying too hard just to embrace the notions of the
unreal
things: “I,” “mine,” and
“my self”!)
- Khái
niệm “vô phân
biệt” trong tư tưởng
Phật giáo dĩ nhiên không
có nghĩa là “không
biết tốt, xấu”, nhưng
nó là một “thách
thức” đối với
sự bám víu vào cái
tự ngã độc tôn
và vị kỷ ở mỗi con
người.
(The concept
of “non-discrimination” in
Buddhist thought of course does not mean “not knowing what is
good or what is
bad,” but in stead it is a “challenge” to
the attachment to the independent
self of each individual—or simply, the egocentric view.)
- Điểm
duy nhất làm cho “sóng”
khác với
“nước” chính
là những biểu hiện của
nó.
(The only
point that makes waves different
from water is the waves’ manifestation.)
- Sự
phân biệt sinh khởi từ
ngã kiến chính là con
đường đưa
đến những bám víu
cố hữu nó rốt cuộc
sẽ làm băng hoại cái
khả tính sống hạnh phúc
và tự tại của bạn.
(Discrimination
emerging from the self-view
is the very way leading to stubborn attachment, which eventually ruins
your
ability of living peacefully and free of all delusions.)
- Càng
quan sát về “sóng”
và “nước”,
bạn càng hiểu rõ cái
tác dụng và sự nguy
hiểm của phân biệt-nhị
nguyên, nhất là khi sự
phân biệt này nổi lên
trong cơn khát của sự
bám víu cuồng si vào
“cái tôi”,
“cái của tôi”,
và “cái tự ngã
của tôi.
(The more you
observe the water and waves,
the more you understand the effectiveness and danger of the dualistic
discrimination, particularly when this discrimination arises in the
thirst of
your crazy attachment to the “I,”
“mine,” and “my self”.)
- Nếu
nhìn vào hiện tượng, ta
sẽ thấy rằng khổ đau
và hạnh phúc rất khác
nhau, cũng như vui và buồn. Tuy
nhiên, nếu nhìn sâu vào
bản chất của chúng, ta
sẽ thấy rằng cả khổ
đau và hạnh phúc
đều sinh khởi từ một
nền tảng, đó là
tâm thức.
(If we look
at the phenomena, suffering and
happiness are quite different from one another, like pleasure and
sadness.
However, if we look deeply into their nature, we can see that both
suffering
and happiness arise from the same foundation: the mind.)
- Thật
vậy, vui sinh khởi từ tâm,
buồn cũng thế. Hạnh
phúc và khổ đau tất
cả đều là những
biểu hiện từ tâm.
(Indeed,
pleasure arises from the mind, as
does sadness. Suffering and happiness are all manifestations from the
mind.)
- Cuộc sống thực
thụ của bạn không cần
một tên gọi, hạnh phúc
thực thụ của bạn cũng
không cần một tên gọi;
bạn ơi, hãy một lần
không tên để
thưởng thức hạnh phúc
của chính mình!
(Your real life does not need
a name; your real
happiness does not need a name either. Be nameless once to enjoy your
real
life!)
- Điều mà kinh
Trái Tim muốn chia sẻ với
bạn đó là: “cái
bạn đang là” là
một cõi mơ!
(The Heart
Sutra would like to share an idea
with you: “what you are” is just a dream!)
- Trong thực tại của
mộng bạn cảm giác rằng
mọi thứ đều là
thật, nhưng nó chỉ thật
trong mộng mà thôi; đến
khi tỉnh giấc, tất cả
những gì diễn ra trong mộng
đều không còn nữa.
Cuộc sống của chúng ta
cũng là như thế.
(In the
reality of a dream you feel that
everything is true, but it is true in the dream only; once you wake up,
all
that has happened in your dream no longer exists. The same can be said
of our
life.)
- Càng
thực tập không bám víu,
chúng ta càng hạnh phúc
hơn.
(The more we practice
non-attachment, the
happier we will be.)
- Cho
đến khi nào mọi gánh
nặng của sự bám víu
vào cái được,
mất, hơn, thua, danh vọng, quyền
lực, vân vân,
được phóng thích
khỏi tâm trí, lúc bấy
giờ chúng ta sẽ thực
thụ tự do thưởng thức
cái hạnh phúc chân thật
hiện tiền.
(Whenever all the burdens of
attachment to gain,
loss, win, failure, fame, power, etc., are released in our minds, we
are then
truly free and able to enjoy true happiness right here and now.)
- Khoảnh
khắc hạnh phúc nhất
của cuộc sống sẽ
đến khi nào cái tự
ngã ra đi.
(The happiest
moments in life come when the
individual self goes.)
- Sự khám phá
rằng cuộc sống thực
thụ của chúng ta không
cần đến một bản
ngã để hiện hữu
quả là điều thú
vị, cũng như hoa hồng, cho
dù bạn có gọi tên
nó là gì đi nữa
thì hương vị ngọt
ngào của nó vẫn là
như thế.
(The discovery that our real
lives do not
actually need a “self” to exist is
enchanting—just as in the case of a rose,
you may call it by any other name, but its sweet essence remains the
same.)
- Để
tỉnh thức, bạn không
cần phải làm thêm bất
cứ điều gì hết,
bạn chỉ cần thực tập
nhìn thật lâu và thật
sâu vào những gì đang
sinh khởi và hoại diệt chung quanh bạn
cũng như trong cơ thể
của bạn (hơi thở,
chẳng hạn).
(To be awake,
you don’t have to do anything
extra at all, only practice looking deeply and durably into what is
rising and
falling around you as well as inside your body (your breath, for
instance.)
- Điều
quan trọng cần lưu ý
rằng, mặt dù bạn có
tuổi, nhưng tâm hồn của
bạn không có tuổi.
(It is
important to note that, although you
age, your mind doesn’t.)
- Cho
đến khi nào bạn thực
sự sống xả ly, không
bám víu, khả năng giác
ngộ của bạn mới có
thể trở thành hiện
thực.
(Until you
have truly lived in equanimity and
non-attachment, your capacity of enlightenment cannot become true.)
- Sự
thức tỉnh thực thụ
xuất hiện trong tâm thức
trên con đường giác
ngộ cũng như một ông
già bổng biến thành trẻ
con khi ông ta đặt xuống
mọi gánh nặng bám víu
trong tâm thức để chơi
với đám trẻ.
(A true
awaking appears in our minds on the
way to enlightenment, like an old man suddenly transformed into a
little kid
when he himself places down all burdens of attachment in his mind to
play with
the children.)
- Trong
dòng thực tại của tâm,
tuổi tác hay sự già nua
chẳng có một ý nghĩa
đặc biệt nào.
(In the
reality of mind-stream, age or
agedness has no special meaning.)
- Trong
thế giới cuồng si mộng
tưởng, tuổi tác qủa
là ấn tượng bởi
vì sự cấu kết của
nó với những biến cố
thăng trầm trong kiếp
người.
(In the world
of confusion and imagination,
agedness is quite impressive because of its connection linking all
rising and
falling events in one’s life.)
- Bạn
không nên bám víu quá
nhiều vào khái niệm
tuổi tác vì bản chất
của nó không gì khác
hơn là sự tích tụ
của vui, buồn trong đời
sống mà thôi.
(You should
not become attached to the
concept of age too much because the nature of age is nothing more than
the
accumulation of pleasure and sadness in life.)
- Bao
lâu bạn còn giữ
được tâm hồn
trẻ thơ hay lấy tâm hồn
trẻ thơ làm nền tảng
cho cuộc sống, thì bấy
lâu bạn vẫn trọn vẹn
là đứa trẻ vui
đùa, sống trong một thế
bình yên, tươi
đẹp.
(As long as
you are able to keep your
childish mind, or take the childish mind as the foundation of your
life, you
remain the authentic merry child living in a beautiful and peaceful
world.)
- Khả
năng nghe của bạn có
thể thay đổi theo thời gian,
nhưng thính giác của
bạn, cũng như nguồn tâm
thức uyên nguyên vượt
lên trên mọi khái niệm
sống chết, nó không hề
thay đổi.
(Your
auditory ability may change over the
course of time, but your auditory sense—like the original
source of mind that
goes beyond all notions of birth or death—never changes.)
- Bạn
chỉ có thể thưởng
thức cái hạnh phúc vô
ngã khi nào bạn sống
đích thực.
(You may
enjoy the non-self happiness only
when you are alive as such.)
- Điều
quan trọng cần ghi nhận rằng
khi bạn đắm chìm trong
thế giới mộng tưởng,
bạn đánh mất cuộc
sống thực thụ của mình.
(It is
important to note that, when you are
immersed in the world of dreams and imagination, you lose your real
life.)
- Bạn
có thể đạt đến
cõi hạnh phúc thực thụ
không phải ở đoạn
kết của cuộc đời
mà ngay bây giờ và ở
đây, ở khoảnh khắc
này, ngay nơi thân xác này
và thế gian này.
(You may able
to obtain the realm of true
happiness not at the end of your life, but right in this moment, in the
here
and now, within this body and this mundane world.)
- Thử
tự hỏi: cho đến giờ
phút này bạn đã
cầm chắc trong tay được
cái gì giữa đời
sống ngắn ngủi và không
ngừng thay đổi của con
người?
(Just ask
yourself what, until this very
moment, have you grasped firmly in your hand during a short and
ever-changing
life of humanity?)
- Thay
vì một ngày nào
đó bạn sẽ phải
từ giã thế giới này
với những ước vọng
chưa hoàn thành còn
đầy ắp được,
mất, hơn, thua, tại sao không
bây giờ và ở
đây sống an bình với
hạnh phúc hiện tại,
một hạnh phúc không bản
ngã.
(Instead of
someday leaving the world with
your uncompleted desires full of gains, losses, successes, failures,
why don’t
you here and now live a peaceful life with the present
happiness—a happiness
without self?)
- Như
những con thiên nga rời ao hồ,
bạn chắc chắn có thể
sống bình yên và tự
tại giữa mọi ràng buộc
và lụy phiền thế gian
với chính con người này
và thế giới này.
(Like a swan
leaving the lakes, you certainly
are able to live a peaceful life free from all delusions and worldly
bondage
right in this body and this world.)
- Bạn
không cần phải chờ
đợi cho đến khi hoàn
tất mọi ước vọng trong
cõi người rồi sẽ
thăng lên trời, vì một
cuộc hành trình như thế
sẽ không bao giờ xảy ra.
(You
don’t have to wait until completing all
desires in this human world and ascending to heaven because such a
journey will
never happen.)
- Để
trực nhận được
chân lý, bạn phải trả
đôi mắt của bạn
về với trạng thái tinh
nguyên của nó, có nghĩa
là, đôi mắt của
bạn sẽ không còn bị
giới hạn bởi “cái
bạn đang là”!
(To truly
perceive the truth, you must let
your eyes return to their original state—that is, no longer
limit your eyes by
“what you are”!)
- Hy
vọng và sợ hãi quả
thực là hai yếu tố
thường trực trong tâm
hồn của chúng ta; nó
hiện diện trong từng khoảnh
khắc, thậm chí ngay cả trong
chiêm bao.
(Actually,
fear and hope are the two
permanent factors in our minds; they exist in every moment, even in our
dreams.)
- Chỉ
có con mắt tinh nguyên mới
có thể nhìn thấy hiện
hữu như là chính nó.
(Only the
pure eyes are able to observe
existence as it is.)
- Bước
vào hành tinh của hạnh
phúc, trên nguyên tắc,
không phải là một việc
khó khăn hay nghiêm trọng;
để đến đó,
bạn không cần phải làm
thêm bất cứ điều
gì mà chỉ có bỏ
bớt bám víu đi thôi.
(To step onto
the planet of happiness is not,
in principle, a difficult or serious task; to get there, you need not
to do any
extra work, but cut short your attachment.)
- Nếu
bạn có thể đón
nhận cả cái tốt lẫn
cái xấu, bạn sẽ trở
thành một con người vĩ
đại.
(If you are
able to welcome both the good and
the bad together, you become a great person.)
- Bất
cứ khi nào bạn làm chủ
được mình, bạn
sẽ làm chủ thế giới
chung quanh mình.
(Whenever you
are able to control yourself,
you are able to control the world around you.)
- Trong
một chừng mực nào
đó, hạnh phúc và
chân lý là một; khi bạn
khám phá ra chân lý, bạn
đồng thời đạt
đến hạnh phúc.
(Happiness
and truth, to a certain extent,
are the same; when you discover truth, you simultaneously achieve
happiness.)
- Điều
gì sẽ xảy đến
với bạn nếu bạn từ
bỏ mọi đa đoan phân
biệt? Thế giới sẽ trở
thành rỗng không? Tan hoại?
Không. Nó không phải là
như thế. Khi mọi đa đoan
phân biệt được
đặt xuống, bạn sẽ
thực thụ tắm mình trong
dòng hạnh phúc thực tại
trong khi trái tim đại bi của
bạn tỉnh thức.
(What will
happen to your life if you give up
all the complexity of discriminations? Won’t the world be
empty? Ruined? No, it
is not like that. When all the complexities of discrimination are set
down, you
will truly put yourself in the reality-stream of happiness while your
heart of
great compassion will simultaneously be awaked.)
- Trong
tập quán suy tư và hiểu
biết của chúng ta, hạnh
phúc và chân lý
thường được xem
là khác nhau; nhưng trong chiều
tuyệt đối, chúng không
hề khác nhau.
(In our
habitual thinking and intellect,
happiness and truth conventionally differ; in the ultimate truth,
however, they
are not at all different from one another.)
- Trên
con đường đi
đến hạnh phúc và
chân lý, bạn càng muốn
lựa chọn chừng nào, thì
càng bị rối ren chừng
đó.
(On the path
to happiness and truth, the more
you want to choose, the more confused you will become.)
- Vượt
qua khổ đau trong ý nghĩa
“sống tự tại”
là con đường thực
tiễn của trí tuệ khả
dĩ đưa đến hạnh
phúc trong hiện tại, bây
giờ và ở đây.
(Overcoming
sufferings in the sense of
“living free” from all delusions is a practical way
of wisdom, capable of leading
to the present happiness, here and
now.)
- Trái
tim đại bi chính là cội
nguồn của cuộc sống.
(The heart of
great compassion is the very
source of life.)
- Tâm
từ bi là cái mà nó
nuôi lớn thánh tâm của
bạn và, cũng như chiếc
thuyền bảo hộ, nó cứu
độ tha nhân.
(Compassion
is that which nurtures your
sainted mind and, like a guardian boat, saves the lives of others as
well.)
- Tâm đại bi và
trí tuệ toàn thiện bao
giờ cũng là sự nghiệp
của một vị Phật hay
một vị Bồ tát.
(The great
compassion and perfect wisdom, the
Prajñāpāramitā, are
always the
career of a Buddha or a Bodhisattva.)
- Với
tâm đại bi đi vào
đời, bạn sẽ không
mệt mỏi hay chán nản ngay
cả khi trán ướt
đẫm mồ hôi để
làm lợi ích cho chúng sinh.
(Living with
the great compassion, you never
feel fatigued or bored in helping and benefiting others, even when your
forehead is full of sweat.)
- Có
khi dòng nước mắt
đại bi cũng chảy dài
trên đôi má chan hòa
cùng cái đau thương
của những kẻ khác,
những kẻ đang lang thang, thất
thểu bên hè cùng với
đói nghèo và bệnh
tật.
(Streams of
tears may sometimes flow down
your cheeks in harmony with the sufferings of others or of those who
are
wandering the streets with hunger and sickness.)
- Tâm
đại bi là đóa hoa
bất tử.
(The great
compassion is an immortal flower.)
- Bạn,
quả thực, không thể
sống hạnh phúc nếu
thiếu vắng tâm đại bi.
(Indeed, you
cannot live a life of true
happiness without the heart of great compassion.)
===End===
[i]
Conze,
Eward. The Prajñāpāramitā Literature. New Delhi:
Munshiram Manoharlal Publishers. 2000. pp. 1-10.
[ii]
Conze,
Edward (trans.). The Perfection of Wisdom
in Eight Thousand Lines and Its Verse Summary, 5th Ed. Delhi:
Sri Satguru
Publications, 1994. p. xi.
[iii]
Về
tư tưởng Bát Nhã, xem
Suzuki, Daisetz T. Essay in Zen Buddhism. New York:
Grove Press,
1961. Về bản kinh Bát Nhã
đầu tiên (Bát Nhã
Bát Thiên Tụng), xem Conze, Edward
(trans.). The Perfection of Wisdom in
Eight Thousand Lines and Its Verse Summary, 5th Ed. San Francisco:
Four Seasons Foundation, 1995.
[iv]
Các bản
Hán dịch khác nhau của
Tâm kinh có thể tìm
đọc trong Đại Tạng
Kinh, Đại Chính Tân
Tu, (大正新修大藏
經) Taishō
No. 252, 253,
254, 255…Ta Cheng Hsin Hsiu Ta Tsang Ching. Japan. Da Zheng Xin xiu Da Zang Jing. Kan Xing
Hui. 1969.
[v]
The “Heart Sutra”,
one of
the sublimest spiritual documents of mankind, is a restatement of the
four Holy
Truths, reinterpreted in the light of the dominant idea of
emptiness.”
See Conze, Eward. The
Prajñāpāramitā Liturature. New Delhi:
Munshiram Manoharlal Publishers.
2000. p. 11.
[vi]
Xem Thích
Tâm Thiện. Lịch
Sử Tư Tưởng và
Triết Học
Tánh Không. NXB Tp.HCM.1999.
[vii]
“Hữu”
(có), “vô” (không),
“sinh” (sinh khởi),
“diệt” (đoạn
diệt), “thường”
(thường hằng),
“đoạn” (không
thường hằng),
“đồng” (giống),
“dị” (khác),
“khứ” (đi),
“lai” (đến).
[viii] Nagarjuna. Mūlamadhyamakakārikā. Chapter XXV, vv. 19–20. See:
大正新修大藏經 Taisho 1564
(Cf. Nos 1564–1567), Vol. 30, pp. 01.30 (Chinese version).
[ix]
Upeksā
is a state of mind that can be translated into English as
renunciation, equanimity, indifference, relinquishment, renunciation,
abandonment,
etc.
~oOo~
|