|
|
KINH TRÁI TIM TUỆ GIÁC VÔ THƯỢNG
(PRAJÑĀPĀRAMITĀSŪTRA-HRDAYA-SÙTRA)
Khải Thiên
(Dịch và chú giải / bản mới - 2007)
~oOo~
Nội
Dung
Lời
Dẫn
Phần
một
Nguyên
Bản và Dịch Bản
I.
Tâm Kinh nguyên
Bản Sanskrit
II.
Tâm Kinh- bản
Hán dịch của Huyền Trang
III.
Bát Nhã Ba La
Mật Ða Tâm Kinh (Ngữ
âm Hán -Việt)
IV.
Tâm Kinh-bản Anh
Ngữ
V.
Tâm Kinh (bản dịch
tiếng Việt)
Chú thích đặc
biệt của bản dịch
tiếng
Việt
Phần
hai
Cấu
trúc Kinh Trái Tim
I.
Cấu Trúc
II.
Phân Tích
Phần
Ba
Thông
Điệp
I.
Thông điệp
từ Kinh
Trái Tim (bản
mới-2007)
Phần Bốn
Nghi thức thọ
trì Kinh Trái Tim
Phụ
Lục
I.
Message
from the Heart Sutra (American
version-2007)
II.
Words
from Heart of Wisdom
=====xxx=====
Lời
dẫn
Bản kinh
được dịch và
chú giải
dưới đây tiếng
Phạn (Sanskrit) gọi là Prajñāpāramitā Hrdaya
Sūtra;
Hán dịch: Bát
Nhã
Ba La Mật Ða Tâm Kinh;
Việt dịch: kinh
Trái Tim Tuệ Giác Vô
Thượng; gọi tắt
là Kinh Trái Tim hay Tâm Kinh (Heart
Sutra).
Về mặt
lịch sử, Bát Nhã là
bộ
kinh đầu tiên truyền bá
tư tưởng Ðại
thừa (Mahāyāna)
với giáo thuyết trung tâm
là Tánh Không (Śūnyatā).
Theo các nghiên cứu hiện
đại, bản kinh cổ nhất
của văn hệ Bát Nhã
là bản Aşţasāhasrikā
Prajñāpāramitā (Bát Nhã
Bát Thiên Tụng), gồm tám
ngàn câu kệ (ślokas)
hay còn gọi là Tiểu
Phẩm Bát Nhã, xuất hiện
khoảng 100 năm trước Tây
lịch. Đến
khoảng đầu thế kỷ
thứ nhất Tây lịch, kinh
Bát Nhã đã từ
từ được mở
rộng thành
Đại Phẩm Bát Nhã
với ba bản khác nhau, bao gồm
bản 100.000 câu, bản 25.000 câu,
và bản 18.000 câu. Nghiên
cưú của Eward Conze cho thấy
rằng nội dung chính của
ba bản trên đều giống
nhau, chỉ khác nhau ở những chi
tiết được lặp lai.[i]
Đặc biệt là, trong số
các bản Bát Nhã, có
những bản được tinh
lược rất ngắn;
hai trong số các bản ngắn
nhất và xuất hiện sớm
nhất (khoảng trước thế
kỷ thứ
IV Tây lịch) là bản Bát
Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra) và Kim
Cương Bát Nhã
(Diamond Sutra). Nghiên cứu của Edward
Conze xác định rằng sự
tập thành của
kinh Bát Nhã được
diễn ra theo một trình tự:
trước hết là Bát
Nhã 8.000 câu (ślokas),
tiếp theo sau là Bát Nhã 10.000
câu, 18.000 câu, 25.000 câu, và
100.000 câu; sau đó Bát
Nhã lại được tinh
giản
thành 2.500 câu, 700 câu, 500 câu,
300 câu (kinh Kim Cương), 150 câu,
25 câu
(Tâm kinh) và sau cùng chỉ
có một âm tiết
“A”. Sự tập thành
kéo dài này hoàn
tất vào khoảng năm 700
Tây lịch (A.D.)[ii]
Lịch sử
tư tưởng của văn
học Bát
Nhã đã được
nghiên cứu rất phổ
biến, đáng chú ý
nhất là những nghiên
cứu của
Thiền sư Suzuki và nhà
Phật học nổi tiếng Edward Conze[iii].
Và như đã đề
cập, tinh yếu của hệ
tư tưởng này
được gói trọn trong
bài Bát Nhã
Tâm Kinh (Heart Sutra), trong đó
bản dịch được
hâm mộ nhất đối
với Phật tử Á
Đông là bản của
ngài Huyền Trang (dịch vào
năm 649)[iv],
dài không hơn 300 chữ, hay
nói chính xác hơn là 262
chữ. Bản dịch này là
bản
kinh thuộc lòng của Phật
tử ở các nước
Viễn Ðông châu Á
và nó cũng được
lưu
hành rất phổ biến tại
các cộng đồng Phật
giáo ở châu Âu và
Bắc Mỹ với tên gọi
quen thuộc là Heart Sutra, tức là
Kinh Trái Tim. Theo Eward Conze, “Bát
Nhã Tâm
Kinh (Heart Sutra), một trong những văn
bản tâm linh hùng vĩ
nhất của nhân
loại, là một tái thẩm
định về bốn Chân
lý, được minh giải
dưới ánh sáng ưu
việt
của Tánh Không luận.”[v]
Bản
Tâm kinh này hiện nay đã
được
dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới. Bản Anh
ngữ đầu tiên do Max Muller
dịch,
in năm 1884; bản thứ hai do Shaku Hannya
dịch, in năm 1923; bản dịch
lần thứ ba
do Thiền sư Suzuki dịch, và
được in trong bộ Thiền
Luận (Essay in Zen
Buddhism) vào năm 1934. Và
đến năm 1948, Eward Conze công
bố thêm một bản
dịch mới. Trên đây
là các bản dịch nổi
tiếng của các học giả
có thẩm quyền
chuyên môn về Phật
học.
Về nội dung,
Tâm kinh được xem
như là “trái tim”
của toàn bộ tư
tưởng Phật giáo
Đại thừa được
nói ra bởi Tuệ
giác Vô thượng của
Phật, nhằm dắt dẫn
chúng sinh đi vào thực
tại–giải thoát. Do
đó, mặc dầu bản kinh
dài không qúa 300 âm tiết
nhưng nó đã đề
cập hầu hết các
giáo lý truyền thống như
bốn Thánh đế,
mười hai Nhân duyên, năm
Uẩn .v.v., đặc
biệt là những giáo lý
truyền thống đó
được soi sáng bằng con
mắt của Tánh
Không.
Nói về sự
kỳ vĩ của Tánh Không,
người viết đã
nhấn mạnh rằng: “Ðiều
độc
nhất vô nhị ở
đây là sự lôi
kéo về trần thế này
và con người này một
trú xứ
nhân gian Tịnh độ... mà
chúng ta cứ những tưởng
trú xứ của niềm phúc
lạc vô
biên đó không có
ở đây, ở mảnh
đất gổ ghề, cấu
nhiễm của những sinh linh đang
thất thểu trong vui buồn, say
tỉnh với bao nỗi khổ
trầm luân. Dưới ánh
sáng của
Tánh Không, lần đầu
tiên chúng ta biết rằng
quê hương của Niết
bàn là trần thế.”[vi]
Nội dung của
tập sách mà bạn đang
cầm trên tay không phải
là một nghiên cứu
đúng nghiã về Tánh
Không luận hay về
tư tưởng và văn
học Bát Nhã, mà trái
lại chỉ là một sự
chuyển ngữ từ Hán văn
sang Việt văn dựa trên nguồn cảm hứng
tâm
linh mà người viết
muốn diễn đạt bằng
ngôn ngữ ‘quê
hương’ của mình.
Bên
cạnh đó, người
viết cũng đưa ra một
vài ghi chú quan trọng về
bức thông điệp
của Tâm Kinh. Tuy Nhiên,
để tránh những ngộ
nhận về ngôn từ khi
đọc bản dịch
này, độc giả nên tham
khảo bản gốc tiếng
Phạn và Hán
được đính kèm.
Ở đây, nội
dung của tập sách này
được bố cục
thành bốn phần: Phần
một: Nguyên bản và một
số bản dịch Bát Nhã
Tâm Kinh; phần hai: Cấu trúc
của kinh; Phần ba: thông
điệp
của kinh, và phần bốn: nghi
thức thọ trì kinh. Trong lần
tái bản này, một vài
chi tiết được sửa
chửa và bổ sung so với
bản in lần đầu
mười năm trước
đây, in
vào năm 1997.
Sau cùng,
ước mong bản dịch và
những ghi chú về Tâm kinh
này, một cách nào
đó, giúp người
đọc khơi gợi nguồn
thiêng cảm nội tại và
khát vọng thể nghiệm
đời sống “xa
rời cuồng si mộng tưởng”,
một đời sống của
thực tại-giải thoát.
Nguyện đem công đức
này, hướng về khắp
muôn loài, cầu cho muôn
chúng sinh,
chóng viên thành Phật
đạo.
Los
Angeles, Mùa An Cư 2007
Khải
Thiên
Phần
Một
I. Tâm Kinh nguyên Bản
tiếng Phạn
prajñāpāramitāhṛdayasūtram
[saṃkṣiptamātṛkā]
//
namaḥ sarvajñāya //
āryāvalokiteśvarabodhisattvo
gambhīrāṃ prajñāpāramitācaryāṃ
caramāṇo vyavalokayati sma /
pañca skandhāḥ,
tāṃśca
svabhāvaśūnyān
paśyati sma //
iha
śāriputra rūpaṃ
śūnyatā, śūnyataiva
rūpam / rūpān na pṛthak
śūnyatā,
śūnyatāyā na pṛthag
rūpam / yad rūpaṃ sā
śūnyatā, yā
śūnyatā tad rūpam
//
evam eva
vedanāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni
//
iha
śāriputra sarvadharmāḥ
śūnyatālakṣaṇā
anutpannā aniruddhā
amalā na vimalā nonā na
paripūrṇāḥ / tasmāc
chāriputra
śūnyatāyāṃ na
rūpam, na
vedanā, na saṁjñā, na
saṃskārāḥ, na
vijñānāni / na
cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāṃsi,
na
rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ
/
na cakṣurdhātur yāvan na
manodhātuḥ //na vidyā
nāvidyā na vidyākṣayo
nāvidyākṣayo yāvan na
jarāmaraṇaṃ na
jarāmaraṇakṣayo na
duḥkhasamudayanirodhamārgā na
jñānaṃ na prāptir
nābhisamayas tasmād aprāptitvāt//
boddhisattvasyaprajñāpāramitām
āśritya viharato’
cittāvaraṇaḥ/
cittāvaraṇanāstitvād atrasto
viparyāsātikrānto
niṣṭhanirvāṇaḥ /
tryadhvavyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ
prajñāpāramitām
āśritya anuttarāṃ
samyaksaṃbodhim abhisaṃbuddhāḥ
tasmāj
jñātavyaḥ
prajñāpāramitā mahāmantro
mahāvidyāmantro
‘nuttaramantro ‘samasamamantraḥ
sarvaduḥkhapraśamanaḥ
satyam amithyatvāt/
prajñāpāramitāyām ukto
mantraḥ / tadyathā gate gate pāragate
pārasaṃgate bodhi svāhā //
iti
prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ
samāptam
II. Tâm Kinh- Bản
Hán dịch của
Huyền
Trang
般若波羅蜜多心經
(Taishō
No 251)
唐三藏法師玄奘譯
觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識亦復如是。舍利子。是諸法空相。不生不滅。不垢不淨不增不減。是故空中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛故。說般若波羅蜜多咒即說咒曰
揭帝揭帝 般羅揭帝 般羅僧揭帝菩提僧莎訶。
III.
Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm
Kinh (Ngữ âm
Hán -Việt)
1. Quán tự
tại Bồ Tát hành thâm
Bát nhã Ba la mật đa
thời,
chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhất thiết
khổ ách.
2. Xá Lợi
tử! Sắc bất dị không,
không bất dị sắc; sắc
tức
thị không, không tức
thị sắc; thọ, tưởng,
hành, thức diệc phục
như thị.
3. Xá Lợi
tử! Thị chư pháp không
tướng, bất sanh bất
diệt,
bất cấu bất tịnh, bất
tăng bất giảm.
4. Thị cố
không trung, vô sắc, vô
thọ, tưởng, hành, thức;
vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý; vô sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp;
vô nhãn
giới, nãi chí vô ý
thức giới; vô vô minh
diệc, vô vô minh tận;
nãi chí vô lão
tử, diệc vô lão tử
tận; vô khổ, tập,
diệt, đạo; vô trí
diệc vô đắc.
5. Dĩ vô
sở đắc cố, Bồ
đề tát đỏa y
Bát nhã Ba la mật đa cố
tâm vô quái ngại; vô
quái ngại cố vô hữu
khủng bố, viễn ly điên
đảo mộng tưởng;
cứu cánh Niết bàn.
6. Tam thế chư
Phật y Bát nhã Ba la mật
đa cố đắc A nậu
Ða
la tam miệu tam Bồ đề.
7. Cố tri Bát
nhã Ba la mật đa, thị
đại thần chú, thị
đại
minh chú, thị vô thượng
chú, thị vô đẳng
đẳng chú, năng trừ
nhất thiết khổ,
chân thật bất hư. Cố
thuyết Bát nhã Ba la mật
đa chú, tức thuyết chú
viết: “Yết
đế, yết đế, ba la
yết đế, ba la tăng yết
đế, Bồ đề, tát
bà ha.”
IV.
Tâm Kinh Bản Anh Ngữ
Prajñāpāramitā hrdaya Sūtra
1. The Bodhisattva
Avalokitésvara, while engaged in the
practice of profound Prajñāpāramitā,
perceived that the five aggregates were empty of
“self-existence”; thus, he
overcame all sufferings and troubles.
2. O Sāriputra, Form does not
differ from Emptiness, and
Emptiness does not differ from Form; Form is Emptiness, and Emptiness
is Form.
The same can be said of feelings, conceptions, actions, and
consciousnesses.
3. O
Sāriputra, the characteristics of the Emptiness of all
dharmas are that they are not arising, not ceasing, not defiled, not
immaculate, not increasing, and not decreasing.
4. For these reasons, in Emptiness
there are no forms, no
feelings, no conceptions, no actions, no consciousnesses: no eyes,
ears,
tongue, body, or mind; no form, sound, odor, taste, touch or
mind-object; no
eye elements until we come to no elements of consciousnesses; no
ignorance and
no extinction of ignorance; no old age and death, and no extinction of
old age
and death; no truth of sufferings, and no truth of the causes of
sufferings, of
the cessation of sufferings, or of the path. There is no knowledge and
no
attainment whatsoever.
5. By reason of non-attainment, the
Bodhisattva dwelling in
Prajñāpāramitā has no obstacles in his
mind. Because there are no obstacles in his mind, he has no fear and,
going far
beyond all perverted views, confusions, and imaginations, reaches the
ultimate
Nirvāna.
6. All the Buddhas of the past,
present, and future, by
relying on the Prajñāpāramitā,
attain the Supreme Enlightenment.
7. Therefore, one should know that the
Prajñāpāramitā is the great incantation, the
incantation of great wisdom,
the unexcelled incantation, and the equal of the unequalled incantation
that is
capable of allaying all sufferings, true because it is devoid of
falsehood.
This is the incantation proclaimed in the Prajñāpāramitā.
The incantation is proclaimed as follows: “Gate, gate;
pāragate, parasamgate,
Bodhi, svāhā!”
(Dựa theo bản dịch
của D.T. Suzuki, Garma
Chang và E. Conze)
V.
Tâm Kinh (bản dịch
tiếng
Việt)
Kinh Trái Tim Tuệ
Giác Vô Thượng
A- Khi tiến sâu (1)
vào nguồn mạch của Tuệ
giác Vô thượng
(2), Người Tỉnh Thức
Bình Yên (3) soi sáng như
thật rằng tự tính của
năm hợp
thể (4) đều là Không
(5), liền thoát ly mọi khổ
ách.
B- Này
người con dòng Sari (6), hình
thể chẳng khác chân
không (7), chân không chẳng
khác hình thể; hình thể
là chân không, chân không
là hình thể; cảm xúc
(8), niệm lự (9), tư duy (10) và
ý thức (11) đều là
như
vậy.
C- Này
người con dòng Sari, tất
cả hiện hữu
được biểu thị
là Không; nó không sanh,
không diệt; không nhơ,
không sạch; không tăng,
không
giảm.
D- Vì thế,
này người con dòng Sari, trong
Không không có
hình thể, không có cảm
xúc, không có niệm lự,
không có tư duy, không có
ý thức;
không có mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý ;
không có hình thể, âm
thanh, hương
thơm, mùi vị, xúc chạm
(12) và hiện hữu (13). Không
có đối tượng
của mắt, cho
đến không có
đối tượng của
ý thức; không có minh,
không có vô minh; không có
sự
chấm dứt của minh, cũng
không có sự chấm dứt
của vô minh; cho đến
không có tuổi
già và sự chết, cũng
không có sự chấm dứt
tuổi già và sự chết;
không có khổ
đau, không có nguyên nhân
của khổ đau, không có
sự chấm dứt khổ đau,
và không
có con đường đưa
đến sự chấm dứt
khổ đau (15); không có
trí giác (16) cũng
không có sự thành tựu
trí giác.
E- Người
Tỉnh Thức Bình Yên, do
không sở đắc nên
sống an
lành trong Tuệ giác Vô
thượng và thoát ly tất
cả chướng ngại. Và
rằng, vì không
có những chướng ngại
trong tâm nên không có sợ
hãi và xa rời những
cuồng si
mộng tưởng, cứu cánh
Niết bàn.
F- Tất cả
chư Phật trong ba đời (17)
đều nương vào
Tuệ giác
Vô thượng mà thành
tựu (18) chánh giác.
G- Vì thế,
nên biết rằng Tuệ giác
Vô thượng là sức
thần
(19) kỳ vĩ, là sức thần
của trí tuệ vĩ
đại, là sức thần cao
tuyệt, là sức thần
tối hậu, vô song; có
thể trừ diệt tất cả
khổ đau. Sức thần
thoắt sinh từ Tuệ
giác Vô thượng này
là sự thật, là chân
lý. Sức thần có năng
lực tối thượng
đó được
tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ
Giác Vô Thượng
rằng:
“Ði qua,
đi qua,
Ði qua bờ bên kia,
Ðã đi qua đến
bờ bên kia,
Svāhā!”
Chú
thích đặc biệt của
bản dịch tiếng
Việt:
(1)
Cụm từ “tiến sâu”
trong bản dịch này mang ý
nghĩa: sự “thể
nhập” hay “thể
nghiệm” của dòng tâm
thức trong “thiền
quán”.
Trạng thái của dòng tâm
thức này dĩ nhiên
được vận hành
trên căn bản của tâm
thức an định.
(2)
“Nguồn
mạch của Tuệ giác Vô
thượng”
được dịch từ
cụm từ “thâm
Bát nhã-profound
Prajñāparamitā”; ở
đây, “trí
tuệ bên kia bờ” hay
“trí tuệ
đáo bỉ ngạn”
— trí tuệ (prajñā),
bên kia bờ (pāramitā)
có thể được
hiểu là “tuệ
giác vô thượng”.
Vì lẽ, chỉ có hàng
đại Bồ tát từ
Bát Địa (trong Thập
địa) trở lên mới
phát huy trí tuệ đặc
biệt
này. Từ “nguồn
mạch” được
thêm vào
trong bản tiếng Việt
để nhấn mạnh yếu
tố “thẳm sâu”
của tuệ giác, một loại
tuệ
giác đầu nguồn mang tính
cách uyên nguyên và vô
phân biệt.
(3)
“Người
Tỉnh Thức Bình Yên”
trong nguyên văn của bản kinh
là Bồ Tát
Avalokitésvara (Bodhisattva
Avalokitésvara). Ở đây,
Avalokitésvara được dịch
theo hai cách: Quán Thế Âm
và Quán Tự Tại. Trong
bản dịch chữ Hán của
Ngài Huyền Trang, danh từ này
được
dịch là Quán Tự Tại.
Từ kép Sanskrit này
được kết hợp
bởi: Avalokita
có nghĩa
là quán,
chiếu kiến, hay nhìn
khắp nơi; và isvara có
nghĩa là chúa
tể, hay bậc siêu
nhân có quyền năng hành
xử một cách tự do. Vấn
đề này
cũng được bàn
đến trong Bát
Nhã Tâm Kinh
Tán của Viên Trắc
(Wonch’uk). Trong bản tiếng
Việt, danh từ này
được dịch
là “Người Tỉnh
Thức Bình Yên” nhằm
mô tả trạng thái “an
tịnh” trong tâm thức
của Bồ Tát, người
đang trú trong thiền
định và kiến chiếu
đương thể (năm
hợp
thể) tức không.
(4)
“Năm
hợp thể” là
năm uẩn (skandhas).
(5)
“Không”
tức là Śūnyatā.
(6)
Mẹ của
Sāriputra là
người rất thông minh nên
có hiệu là Sari. Trung Hoa dịch
chữ Sariputra là Xá
Lợi Tử, hay Xá Lợi
Phất nghĩa là, đứa con
dòng Xá Lợi (Sari). Do
đó, ở đây dịch
là: Người con dòng Sari,
lối dịch này đã
được sử dụng trong
bản dịch “Kinh Ruột
Tuệ Giác Siêu Việt”
của Thi Vũ, do Trí Quang giới
thiệu, xuất bản năm 1973,
tại
Paris.
(7)
“Hình thể
và chân
không” là hai từ biểu
thị cho sắc
và không.
Cả hai từ này đều mang
tính cách
giả định. Ví dụ: khi
nói đến sắc
tức
là nói đến một
hình thể, một vật hữu
hình, một vật
chất…mà nó đối
nghịch lại
với không:
như chân không, không hình
thù, không hiện hữu hay
không thực có. Dĩ nhiên, không trong
đối lập với sắc
ở đây được
hiểu là giả định;
nhưng Không
trong tinh yếu của Bát Nhã
là Śūnyatā, nó vượt
lên trên
mọi phân biệt, đối
lập giữa sắc
và không.
(8)
“Cảm
xúc” tức là Thọ
uẩn (vedanayā).
(9)
“Niệm
lự” là một cách
diễn dịch về Tưởng
uẩn (samjñā: những niệm
lự hay các ấn tượng
của tri giác).
(10)
“Tư
duy” tức là Hành uẩn (samskāra-mental
formations). Tư duy là yếu tố
căn bản trong đời sống
tâm thức, nó nổi bật
trong
mọi sự tạo tác và
tựu thành của nghiệp (karmic
formations).
(11)
“Ý
thức” (vijñāna)
là Thức uẩn, bao gồm
cả ba yếu tố: cảm xúc
(thọ), niệm lự
(tưởng), và tư duy
(hành).
(12)
“Xúc”
(sparśa) trong
(sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp). Xúc là
tiếp
xúc, giao thoa giữa các căn
và trần.
(13)
Hiện
hữu được dùng
đồng nghĩa
với pháp (dharma).
(14)
Vô minh (avidyayā), nguồn
gốc của sự khổ
đau.
(15)
Tứ
đế (Khổ đế,
Tập đế, Diệt
đế, Ðạo
đế).
(16)
Trí
giác dịch từ "Vô trí
diệc vô đắc".
(17)
Ba
đời: quá khứ, hiện
tại, vị
lai.
(18)
Thành
tựu ở đây có
nghĩa là đã
giải thoát khỏi thế
giới sinh tử của nhị
nguyên.
(19)
“Sức
thần” tức là năng
lực phi
thường được sinh
khởi linh ngữ hay thần chú (mantra).
Phần
Hai
Cấu Trúc Của Kinh
Trái Tim
I. Cấu
Trúc
Bản
Tâm kinh lời Việt trên
được chia thành bảy
phân đoạn, biểu thị cho
con đường tu
tập của Bồ Tát khởi
đầu bằng thiền quán,
và được trình
bày thứ tự như
sau:
1-Phân
đoạn một: Giới thiệu
tổng quát: a- Chủ thể
quán sát; b- Trí tuệ quán
sát ; c- Ðối tượng
quán sát, và
d- Tác năng hay hiệu lực
của trí tuệ quán
sát.
2- Phân
đoạn hai: Giới thiệu
về Tánh Không qua hai phạm
trù hiện tượng và
bản thể.
3- Phân
đoạn ba: Giải minh về
bản Tánh Không giữa
những khái niệm phân
biệt.
4- Phân
đoạn bốn: Minh thị Bản
Tánh Không vượt lên
trên 5
uẩn, 12 xứ,
18 giới và 12 nhân duyên
và 4 Thánh đế bằng
hình thức phủ định
liên hồi.
5- Phân
đoạn năm: Giới thiệu
về năng lực của Tuệ
giác Vô thượng và
sự thành tựu đời
sống “xa rời cuồng si
mộng tưởng” hay
đời sống “Niết
bàn”.
6- Phân
đoạn sáu: Xác chứng
về Tuệ giác Vô
thượng qua ba
đời chư Phật.
7- Phân
đoạn bảy: Minh thị về
sức thần (thần lực)
của Tuệ
giác Vô thượng
đối với sự diệt
trừ khổ đau hay thăng
chứng Niết bàn. Và, kết
thúc, Tâm kinh tuyên câu linh
ngữ: “Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi
svāhā!”
II. Phân Tích
A.
Phân đoạn một:
“Khi tiến
sâu vào nguồn mạch của
Tuệ giác Vô thượng,
Người Tỉnh Thức Bình
Yên soi sáng như thật
rằng tự tính của
năm hợp thể đều
là Không, liền thoát ly
mọi khổ ách.”
Ðoạn kinh
mở đầu này chỉ
có một
câu duy nhất, cũng là câu
luận đề (thesis statement) của
toàn bộ bản kinh. Và
sau khi đọc hết toàn
bản kinh ta sẽ thấy rằng
tất cả nội dung của nó
được hàm
chứa trong câu luận đề
này một cách trọn vẹn
và chặt chẽ. Ở
đây, luận đề
của
kinh bao gồm: (1) Chủ thể quan
sát (Bồ Tát Avalokitésvara), (2)
Ðối tượng quan
sát (năm uẩn hay năm hợp
thể), (3) Cơ sở quan sát
(trí tuệ Bát nhã) và (4)
Tác
năng hay hiệu lực của
trí tuệ quan sát (soi sáng
tự tính của năm hợp
thể là
Không, và thoát ly mọi
khổ ách)
(1) Chủ
thể quan sát:
Bồ Tát
Avalokitésvara được dịch
theo hai cách: Quan Thế Âm và
Quán Tự Tại, cả hai danh
từ này đều chỉ cho
một
vị Bồ Tát. Như
đã đề cập, danh
từ Avalokitésvara, trong Tâm Kinh,
được dịch là
Quán Tự Tại nhằm nhấn
mạnh “quyền năng vô
ngại” của vị
đại Bồ tát dùng
phương
tiện quán chiếu Bát Nhã
để soi sáng (kiến
chiếu) đương thể
tức không một cách
tự do. Mặc dù vậy, theo
từ nguyên, Quán Thế Âm
hay Quán Tự Tại đều
được dịch từ
một danh từ duy nhất đó
là Avalokitésvara. (Xem chú
thích 03.) Trong nỗ
lực Việt hóa, danh từ
“Quán Tự Tại”
được dịch là
“Người Tỉnh Thức
Bình Yên”.
“Tỉnh thức” và
“bình yên” ở
đây biểu thị cho trạng
thái “an tịnh” của
thiền
định.
(2) Ðối
tượng quan sát:
Ðối
tượng quan sát ở
đây là năm
uẩn hay năm hợp thể (aggregates)
gồm: hợp thể của sắc
(thuộc thế giới vật
lý),
của thọ, tưởng, hành
và thức (thuộc tâm lý),
nói chung là con người và
thế giới
sự vật hiện tượng (The
world of phenomena).
(3) Cơ sở
quan sát:
Ở đây,
cơ sở dùng để quan
sát là
trí tuệ Bát nhã (Tuệ
giác Vô thượng), hay trí
tuệ thoát ly nhị nguyên;
trực
nhận thực tại như là
chính nó (to their appearances as they really are).
Kinh
gọi là trí tuệ bên kia
bờ: Trí tuệ (prajñā),
Bên kia bờ (pāramitā).
(4) Tác
năng của trí tuệ quan
sát:
Tác năng
của trí tuệ quan sát
trước hết được
xác định ở hai
điểm ngay trong câu luận
đề của kinh: a) “Hành
thâm Bát nhã” (engaged
in the
practice of profound Prajñāpāramitā)
và b) “Chiếu
kiến ngũ uẩn giai không”
(perceived that the five aggregates are empty of self-existence).
Mối quan hệ
nhân quả được
thể hiện rất rõ ở
đây là khi Bồ Tát
“Hành thâm
Bát nhã” thì
người sẽ “Chiếu
kiến ngũ uẩn giai không”
và do đó được
“thoát ly mọi
khổ ách” (overcame all
sufferings and troubles). Như
vậy, tác năng hay hiệu
lực của trí tuệ quan
sát ở đây là
thực tại-giải thoát.
Cũng nên lưu ý rằng,
mệnh đề “độ
nhất
thiết khổ ách”
là phần được
thêm vào trong bản dịch.
B. Phân
đoạn hai:
“Này
người con dòng Sari, hình
thể chẳng khác chân
không, chân không chẳng
khác hình thể. Hình thể
là chân
không, chân không là hình
thể; cảm xúc, niệm lự,
tư duy và ý thức
đều là như
vậy.”
Phân đoạn
này giới thiệu về Tính
Không qua hai phạm trù: hiện
tượng
(phenomenon) và bản
thể (noumenon).
Về mặt hiện tượng,
kinh giả định bằng hai
hiện hữu (dharma)
đối lập: sắc
(hình thể) và không
(chân không—không
hình thù và không
tướng trạng). Dựa vào
hai phạm trù giả định
này, kinh minh
thị sự đồng nhất
của bản thể: “sắc
chẳng khác không
và ngược lại không
chẳng khác sắc;
sắc là không và không
là sắc”.
Có thể lấy
thí dụ về hình ảnh
của sóng và
nước
để minh họa cho hai phạm
trù sắc
và không.
Về mặt hiện tượng,
sóng và nước là hai
biểu hiện hầu như
khác nhau, nhưng về mặt
bản thể, sóng là hiện
thân của nước, hay nói
khác đi,
sóng chính là nước.
Ở đây không có
khác biệt nào trong bản
chất của sóng và
nước. Đây là cơ
sở để nhận thức
về “thực tính-vô
tính” của năm uẩn
(sắc, thọ, tưởng,
hành, và thức).
C.
Phân đoạn ba:
“Này
người con dòng Sari, tất
cả
hiện hữu được
biểu thị là Không; nó
không sanh, không diệt, không
nhơ, không
sạch, không tăng, không
giảm.”
Phân đoạn
này giải minh bản tính
Không hay còn gọi là
“thực tính-vô
tính” của hiện hữu
(dharmas) giữa những khái
niệm phân biệt, bao gồm con
người và thế giới
sự vật hiện tượng.
Bản chất của
con người và thế giới
vốn không có một ngã
thể độc lập, chúng
là hiện hữu của
duyên sinh; do đó, từ trong
thâm sâu, cái mà gọi
là tự tính của hiện
hữu thực
chất là “vô
tính” hay “Không có
tự tính”. Nói khác
đi, bản chất của tất
cả hiện
hữu là không có một
ngã thể (entity) độc
lập, tuyệt đối. Vì
vậy, chuyện sinh
diệt, nhơ sạch, tăng
giảm ở đây là do
ý niệm phân biệt của
con người giả định
mà
thôi; hiện hữu hay các
pháp vốn không có những
đặc tính đó.
Ðiều này được
giải
thích rõ qua: (i) giáo thuyết
của Trung Quán (Mādhyamika) với các
mối liên hệ giữa
“không, giả danh, và trung
đạo”;
hoặc là (ii) ba tự tính
của triết học Duy thức (Vijñapati-mātratā-vāda): 1-
Tự tính giả lập (parikalpita
- svabhāva): hiện hữu
vốn
không thật nên không thể
được xem như là sinh
diệt, nhơ sạch, tăng
giảm. 2- Tự tính tùy
thuộc (panratantra
svabhāva), hiện hữu là
do duyên sinh nên không thể
nói là có sinh diệt, nhơ
sạch, tăng giảm. 3- Tự
tính tuyệt đối (prinispanna-svabhāva),
hiện hữu của các pháp
là “như thế” (tathagata),
vốn thoát ly ngoài ý
niệm nhân, ngã nên không
thể nói đến sinh diệt,
nhơ sạch,
tăng giảm.
D. Phân
đoạn bốn:
“Vì thế,
này người con dòng Sari,
trong Không không có hình
thể, không có cảm xúc,
không có niệm lự, không
có tư
duy, không có ý thức,
không có mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý;
không có hình
thể, âm thanh, hương
thơm, mùi vị, xúc chạm
và hiện hữu; không có
đối tượng của
mắt cho đến không có
đối tượng của
ý thức; không có minh,
không có vô minh;
không có sự chấm dứt
của minh, cũng không có
sự chấm dứt của vô
minh; cho đến
không có tuổi già và
sự chết, cũng không có
sự chấm dứt của tuổi
già và sự
chết; không có khổ đau,
không có nguyên nhân của
khổ đau, không có sự
chấm dứt
khổ đau và không có con
đường đưa
đến sự chấm dứt
khổ đau; không có trí
giác
cũng không có sự thành
tựu trí giác.
Nội dung của
phân đoạn này, Tâm
kinh giải thích về “vô
tự tính” hay “bản
tính không” thông qua sự
phủ định các
pháp căn bản: 5 uẩn (skandhas): Sắc
(hình thể) gồm nội sắc
(thân thể vật lý) và
ngoại sắc (thế giới
sự vật hiện
tượng). Nội sắc bao
gồm: cảm xúc (cảm
thọ), niệm lự (tưởng),
tư duy (hành) và ý
thức. Kế đến, Tâm kinh
nói về các xứ (ayatanas),
nơi sản sinh ra các tác
nghiệp. Sáu xứ bao gồm: 6
nội xứ (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý) và 6
ngoại xứ
(sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp [hay hiện hữu]),
cộng chung lại thành 12 xứ.
Do các hoạt động giao
tiếp giữa sáu nội xứ
(chủ thể) và sáu ngoại
xứ (đối
tượng) nên hình thành
sáu thức (của mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và
ý), gọi chung
là 18 giới (dhatus), tức 18 nền
tảng của hiện hữu.
Nương tựa vào 5 uẩn
(hợp
thể) và 18 giới mà 12
nhân duyên (vô minh, hành,
thức, danh-sắc, lục nhập,
xúc,
thọ, ái, thủ, hữu, sinh,
lão - tử) xoay tròn theo nguyên
tắc của Bốn Thánh
đế
(khổ, tập, diệt, đạo)
theo hai hướng, hoặc lưu
chuyển (từ tập đế
đến khổ đế)
hoặc hoàn diệt (từ
đạo đế đến
diệt đế).
Điểm chính
của phân đoạn này
là ở
chỗ, Kinh dùng hình thức
phủ định liên hồi
của nó để cắt
nghĩa khái niệm “vô
trí diệc vô
đắc”. Mục tiêu
chính của phát biểu
nàylà nhằm phủ
định bất kỳ sự
bám víu (có thể) nào
của phân biệt nhị
nguyên.
E. Phân
đoạn năm:
“Người
Tỉnh Thức Bình Yên, do
không sở đắc nên
sống an lành
trong Tuệ giác Vô thượng
và thoát ly tất cả
chướng ngại. Và rằng,
vì không có
những chướng ngại trong
tâm nên không có sợ
hãi và xa rời những
cuồng si mộng
tưởng, cứu cánh Niết
bàn.”
Phân đoạn
này nói về sức mạnh
của
Tuệ giác Vô thượng hay
là Trí tuệ Bát nhã.
Ở đây, điều quan
trọng là khi hành
giả an trú trong trí tuệ
Bát nhã sẽ vượt qua
mọi chướng ngại của
vô minh, tham
ái và chấp thủ. Hay nói
khác hơn là với trí
tuệ Bát Nhã, hành giả
sẽ thấy rõ
hiện hữu như là chính
nó, nghĩa là tất cả
những gì xuất hiện trong tri
giác
phân biệt của chúng ta
đều là vô ngã,
vô thường. Do thấy rõ
như vậy nên hành
giả vượt thoát mọi
chướng ngại; và lúc
bấy giờ trong tâm hành
giả không còn sự
hiện hữu nào của sợ
hãi và cuồng si mộng
tưởng. Một tâm thức
tịch tịnh như thế
chính là miền Niết bàn
cứu cánh. Dưới ánh
sáng rực rỡ của trí
tuệ Bát nhã, mọi
phân biệt nhân ngã
đều hóa thành hư
ảo và mọi sự bám
víu đều được
rũ bỏ trong
đời sống “viễn
ly”. Đây là mục
tiêu của Bát Nhã.
F. Phân
đoạn sáu:
“Tất cả
chư Phật ba đời
đều nương
vào Tuệ giác Vô
thượng mà thành tựu
chánh giác.”
Phân đoạn
này được xem như
là
điều xác chứng của
Phật về năng lực và
sức mạnh vĩ đại
của Tuệ giác Vô
thượng
qua truyền thống giác ngộ
của chư Phật ở quá
khứ, hiện tại, và vị
lai. Đây
cũng là lý do tại sao trong
văn học Bát Nhã nhấn
mạnh rằng “Bát Nhã
là mẹ của
chư Phật.”
G. Phân
đoạn bảy:
“Vì thế,
nên biết rằng Tuệ giác
vô thượng là sức
thần kỳ vĩ, là sức
thần của trí tuệ vĩ
đại, là sức thần cao
tuyệt, là sức thần tối
hậu, vô song, có thể
trừ diệt tất cả khổ
đau. Sức thần
thoắt sinh từ Tuệ giác
Vô thượng này là
sự thật, là chân lý.
Sức thần có năng
lực tối thượng
đó được tuyên
nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác
Vô Thượng rằng:
“Ði qua, đi qua, đi qua
bờ bên kia, đã đi qua
đến bờ bên kia,
svaha!”
Phân đoạn
này xác định thêm
một
lần nữa về sức mạnh
của năng lực trí tuệ,
có thể diệt trừ khổ
đau, siêu thoát
cho chính mình và tế
độ tha nhân. Ðoạn
kết của kinh Trái Tim, ta thấy
rõ trí
tuệ (wisdom) được
đề cao như một chân
lý tuyệt đối (Absolute truth),
và đây quả
thực là “trái tim”
của tư tưởng
Đại thừa Phật giáo,
một loại tư tưởng
triết học
ở bên kia bến bờ của
nhị nguyên.
Tóm
lại, nội dung của kinh Trái Tim
dài không quá 300 chữ,
được mở đầu
bằng luận
đề: “Khi tiến sâu
vào nguồn mạch của tuệ
giác vô thượng,
Người Tỉnh Thức Bình
Yên soi sáng như thật
rằng tự tính của năm
hợp thể đều là
Không, liền thoát ly
mọi khổ
ách”. Và nội dung
chính của kinh là triển khai
luận đề: “Soi sáng
như thật rằng tự tính
của năm hợp thể
đều là Không” qua
sự phân tích tiến trình
của 5 uẩn (hợp thể) 12
xứ, 18 giới, 12 nhân duyên
và 4 Thánh đế. Rõ
ràng, kinh
Trái Tim có một giá trị
đặc biệt về ngôn
ngữ và kết cấu văn
pháp, cũng như về
nội dung thông điệp (xem
Phần Ba) của nó. Có lẽ,
đây là lý do tại sao
bản kinh
rất ngắn này
được truyền tụng
hàng ngày trong đời sống
của người Phật tử. Tuy
nhiên, trước viễn cảnh
của thực tại, thông
điệp của kinh Trái Tim
cũng chính là
sự thách thức lớn lao
của con người. Vì lẽ,
đối diện với Tánh
Không, chủ thể
hoặc là bị cuốn hút
vào thế giới hư vô
không tận, hoặc là nở
nụ trưng bày sức
sống luân lưu bất tuyệt
của dòng thực tại.
Sóng về
xóa dấu
chân không
Bỗng dưng thuyền đã
bên dòng Chân như.
Phần Ba
Thông Điệp
của Kinh Trái Tim
Lời
dẫn vào Thông điệp
Bạn
thân mến,
Mười
năm trước đây khi
viết bức thông điệp
của Kinh
Trái Tim tôi đã
viết với tất cả tấm
lòng. Lúc đó tôi
tự nói với lòng mình
rằng, “công việc này
qủa thực là liều lĩnh
nhưng đầy hứng
thú.” Tuy nhiên, tôi
chưa bao giờ cảm thấy
hài lòng với bức thông
điệp đó. Tôi
cũng chẳng hiểu vì
sao? Thế rồi mười năm
sau, khi đọc lại bản
cũ, tôi cảm thấy mình
cần phải quay
trở về với công việc
này thêm một lần nữa.
Và đó là sự ra
đời của bức thông
điệp mà bạn đang
cầm trên tay.
Khi
viết bức thông điệp
này, tôi không mang một ý
thức rằng mình đang cắt
nghĩa hay
giải minh về triết học
Bát nhã, mà trái lại,
tôi viết từ một cảm
xúc mà có lúc
muốn bật khóc vì thấm
thía cái đẹp tuyệt
vời trong lời dạy của
Đức Phật. Lời
dạy của Ngài đã
cứu rỗi tôi, ban cho tôi
một sự bình yên nội
tại mà không làm
sao tôi có thể sánh với
cái gì trên thế gian này.
Ước
mong rằng, qua bức thông
điệp này, chúng ta có
thể dìu dắt nhau đi qua
những đa
đoan thế sự để
trở về với miền hạnh
phúc-thực tại không bản
ngã. Khi vui cũng
như khi buồn, xin bạn hãy
đọc bức thông
điệp này để
sưởi ấm cõi lòng
nhân gian.
Hy vọng, nụ cười của
bạn sẽ xóa tan đau khổ
của sinh linh khắp trong ba nghìn
thế giới.
Nam
Mô
Đại Bi Quán Thế Âm
Bồ Tát.
Los Angeles, Mùa an cư 2007.
Khải Thiên
- Hành Tinh Của Ánh
Sáng
Bạn
thân mến,
Bức
thông điệp mà bạn
đang cầm trên tay là
“một phần tinh hoa”
được rút ra từ Kinh Trái Tim Tuệ Giác
Vô Thượng. Khi
nói đến “một
phần tinh hoa” tôi muốn
nói rằng chúng ta đang
chiêm nghiệm cái
đẹp siêu việt và
toàn bích của Bát nhã
trong một chiều kích rất
giới hạn của
một tâm hồn còn nhiều
xao xuyến bởi được,
mất, hơn, thua…Tuy nhiên,
như ánh
sáng của mặt trăng,
những ai có mắt đều
nhìn thấy được; song
cái đẹp của ánh
sáng đó như thế
nào là tùy thuộc ở
mỗi đôi mắt hay nói
khác hơn là ở mỗi
tâm
hồn. Chúng ta, ở đây,
đang chia sẻ với nhau về
bức thông điệp kỳ
vĩ của Bát nhã
không phải trên bình
diện của lý thuyết mà
ngay trong đời sống thực
tại. Chắc
chắn rằng những ai lĩnh
hội được bức
thông điệp của Bát
nhã, cho dù chỉ là một
phần rất nhỏ, sẽ có
được một đời
sống hạnh phúc và bình
an thực thụ, một đời
sống “xa rời cuồng si
mộng tưởng”, một
đời sống tự tại
giữa trùng điệp khổ
đau.
Để có
thể đi vào đời
sống mầu nhiệm của Bát
nhã, trước hết bạn
cần phải một lần, hay
ít ra là ngay trong giờ phút
này, bước vào hành tinh
của ánh sáng. Vì lẽ,
sinh
mệnh của Bát nhã chính
là ánh sáng trí tuệ,
một thứ ánh sáng
vượt lên trên mọi
giới hạn của tâm hồn
trần thế, hay nói khác
hơn đó là ánh
sáng trí tuệ (prajñā) ở bên kia
bờ (pāramitā). Chính nhờ
ánh sáng này mà một
“linh hồn” khổ đau
có thể được
“cứu
rỗi”, một đời
sống hạnh phúc thực
thụ có thể
được dựng lập,
và trên hết, một
tâm thức giác ngộ hy
vọng được bừng
lên không phải ở
đoạn kết của cuộc
đời hay
ở bên kia thế giới mà
ở chính tại mảnh
đất này và con
người này. Bạn nên
nhớ
rằng, chúng ta có nhiều
loại ánh sáng: ánh sáng
của mặt trời, mặt
trăng, ánh
sáng của thế giới tự
nhiên, ánh sáng sinh học,
ánh sáng của khoa học,
ánh sáng
của tri thức .v.v. Ở
đây, ánh sáng trí
tuệ bên kia bờ (prajñāpāramitā), gọi tắt
là Bát nhã, là một
loại ánh sáng tâm linh phi
thường, bạn không thể
lĩnh hội bằng còn
đường lý
luận, mà trái lại, bạn
chỉ có thể đạt
được bằng con
đường thể nghiệm
và tu tập hằng ngày của
chính bản thân. Điều
rất
quan trọng mà bạn cần
phải tỉnh thức ngay bây
giờ và ở đây
là, đời sống hạnh
phúc của thế gian—tình
yêu, tiền bạc, danh vọng,
địa vị, quyền lực
.v.v.— trên
thực tế hoàn toàn không
có gì được bảo
đảm và chắc chắn,
bởi vì tất cả
đều
không ngừng thay đổi theo
định luật vô
thường. Chỉ một cơn
giận hay một sự hiềm
tỵ nổi lên trong dòng
lưu chuyển của tâm
thức, trong tích tắc mọi
thứ có thể sẽ
hoàn toàn đổi khác;
lúc bấy giờ cái mà
chúng ta cho là tình yêu,
là hạnh phúc…
có thể biến thành khổ
đau. Vì thế, đời
sống hạnh phúc của thế
gian sẽ rất bấp
bênh nếu như nó không
được soi sáng và
dắt dẫn bởi ánh sáng
của Bát nhã.
Vậy
đặc tính ánh sáng
của Bát nhã là gì
và nó
đến từ đâu?
Bát
nhã, như đã nói,
là một loại ánh sáng
của trí tuệ mà tự
thân nó vượt lên
trên
mọi định kiến, cố
chấp về “hữu, vô,
sinh, diệt, thường,
đoạn, đồng, dị,
khứ,
lai”[vii].
Do dựa vào bản chất
siêu việt mọi định
kiến, cố chấp nên Bát
nhã được định
nghiã là “trí tuệ
ở bên kia bờ” (trí
tuệ đáo bỉ ngạn), hay
còn gọi là “trí
tuệ-vô ngã”. Cũng
vậy, nhờ vào tính siêu
việt này mà Bát nhã
luôn cưu mang
trong chính nó một khả
tính vô bờ. Thử lấy
bàn tay làm thí dụ. Khi ta
đã cầm
chắc một vật nào
đó trong tay, thì bàn tay
tự nó không còn khả
năng cầm thêm
một vật khác. Ngược
lại, khi ta không cầm nắm hay
bám víu (thủ trước)
bất kỳ
cái gì, lúc bây giờ
bàn tay của ta sẽ có
một khả năng vô hạn,
nghiã là nó có
thể cầm bất cứ cái
gì nó muốn. Đó
chính là ý nghiã và
khả tính của sự không
bám
víu (vô thủ trước).
Tương tự như thế, khi
một tâm thức không bám
víu hay không
bị chi phối bởi tham, sân,
chấp ngã, hay phiền não,
nhiễm ô, lúc bấy giờ,
thực
tại của tâm sẽ lưu
chuyển như một nguồn
ánh sáng bao la không giới
hạn, và
không chướng ngại.
Đấy chính là một
loại “thần lực”
đặc thù của tâm
thức không
bám víu. Do vậy, ánh sáng
siêu việt của Bát nhã
được kết thành
từ một tâm thức
không có định kiến
và cố chấp, hay nói khác
hơn là một tâm thức
xả ly, thanh
tịnh.
Trên
thực tế, thực tại của
tâm luôn cưu mang hai dòng
năng lượng: sáng (thiện)
và
tối (bất thiện). Dòng
năng lượng của ánh
sáng là tâm từ bi, tâm
yêu thương, tâm
khoang dung, tâm hỷ
xả…và ngược
lại, là dòng năng
lượng tối tăm, tức
là: tham
lam, sân hận, thù oán,
cố chấp, phiền não, và
nhiễm ô. Vì lý do này,
Bát nhã
được gọi là hành tinh của ánh
sáng,
một hành tinh không có
bất kỳ một bóng mờ
nào của phân biệt, cố
chấp; một hành
tinh của đời sống xả
ly thực thụ. Và đấy
cũng là lý do tại sao,
bạn được mời
gọi ngay từ đầu hãy
một lần bước vào
hành tinh của ánh sáng
để có thể lĩnh
hội
bức thông điệp hùng
vĩ của Bát nhã ba la mật
(prajñāpāramitā).
Nói tóm
lại, bạn không cần
thiết phải vướng bận
quá
nhiều vào ngôn từ
để đi vào thể
nghiệm đời sống Bát
nhã; một điều duy nhất
bạn
cần thực hành đó
là hãy sống tự tại
giữa lòng hiện hữu,
sống buông bỏ mọi bám
víu, cố chấp, nhất là
sự bám víu vào một
khát vọng vĩnh cửu. Vì
khát vọng vĩnh
cửu trên thực tế không
gì khác hơn là hiện
thân của lòng chấp ngã.
Nên nhớ rằng
bạn sẽ không mất cái
gì hết khi thực hành tâm
xả ly, mà trái lại,
chính sự xả
ly hay không bám víu của
tâm sẽ đem lại cho bạn
một đời sống nhẹ
nhàng hơn và
an lạc hơn rất nhiều.
Xả ly chừng nào thì
hạnh phúc chừng đó.
Bạn sẽ là người
rất
hạnh phúc khi mọi gánh
nặng (sự
bám víu) trong
tâm của chính bạn
được đặt
xuống (xả ly).
- Từ Đôi Mắt
Tinh Nguyên
Bạn thân
mến,
Giữa cuộc
sống với nhiều điều
không như ý, với
nhiều bức bách, bất an,
và thậm chí với nhiều
khổ đau, làm sao bạn có
thể thực
hành đời sống xả ly
để nắm bắt hạnh
phúc? Đấy là câu
hỏi của nỗi niềm
thống
thiết và là thách thức
lớn nhất trên con
đường tìm kiếm
hạnh phúc của bạn. Xin
hãy đừng lo âu! Thông
điệp của Kinh Trái Tim
sẽ giới thiệu cho bạn
một
bước đi (nguyên lí)
căn bản để bạn
có thể thực tập
đời sống xả ly và
thụ hưởng
nguồn hạnh phúc, an lạc ngay
trong hiện tại của đời
sống, cho dù đời sống
đó là
bất an. Bước đi căn
bản này được
bắt nguồn từ
“đôi mắt tinh
nguyên” mà Người
Tỉnh Thức Bình Yên (Avalokitésvara)
đã thực hành thành
tựu và đã vượt
qua mọi khổ đau.
Để thực
tâp bước đi căn
bản này, trước hết
bạn hãy
nỗ lực làm cho đôi
mắt của chính bạn trở
nên long lanh, sáng ngời
để nó có thể
đạt đến một
trạng thái tinh nguyên; nghiã
là, hãy làm cho con mắt
của bạn không
còn bị giới hạn bởi
“cái bạn đang
là”!
“Cái
bạn đang là” là
gì? Đó
chính là con người hiện
tại của bạn, một con
người được
nhận diện qua năm yếu
tố: cơ thể (body), cảm
thọ (feeling), ảnh tượng
của tri giác (perception),
khuynh hướng tư duy (volitional action),
và ý thức của các
giác quan
(consciousnesses).
Ở đây,
cái nguyên nhân trực
tiếp làm cho bạn bị
phiền não, bất an, hay ngăn
cản bạn thụ hưởng
nguồn hạnh phúc sống
động luôn
trôi chảy, trước hết
chính là sự “vẩn
đục” của đôi
mắt, hay nói khác đi là
sự
bám víu của đôi
mắt (ngã kiến). Nói một
cách cụ thể, bạn đang
sống với/trong
những sự thật như vầy:
tôi đang bận tâm với
cơ thể của tôi vì
nó đang thay đổi;
những cảm giác này là
cái hoặc là tôi khao khát
hoặc là cái tôi chán
ghét; tôi
đang sa đà hay bị cuốn
hút một cách thụ
động bởi những ảnh
tượng (vui, buồn,
thương, ghét .v.v.) trong tâm
tôi; tôi bị buộc phải
suy nghĩ miên man không tự
chủ về một qúa khứ xa
xôi hay về một tương lai
mờ ảo; tôi có ý
thức, nhưng ý
thức của tôi bị tán
loạn không ngừng .v.v. Những
sự thật này chính là
những
biểu hiện của sự bám
víu (chấp thủ), nó luôn
làm vẩn đục đôi
mắt của bạn và dĩ
nhiên nó là sức mạnh
vô hình dồn bạn vào
bến bờ của cả hy vọng
và sợ hãi. Trên
thực tế, hy vọng và sợ
hãi là hai yếu tố
thường trực trong tâm
của bạn, nó hiện
diện ngay cả trong chiêm bao và
mộng mị. Cho đến khi
nào bạn những bám víu
này
được buông xuống,
thì đôi mắt của
bạn sẽ trở về tinh
nguyên; nghiã là nó sẽ
nhìn hiện hữu như là
chính nó.
Làm
sao cho đôi mắt trở về
tinh nguyên?
Như đã
đề cập ngay từ
đầu, bạn cần phải
ít nhất một
lần bước vào hành tinh
của ánh sáng, vì ở
đó không có sự
hiện diện của những
năng lượng tối tăm,
tức là những tâm thức
tham, sân, kiêu mạn…
Để bước vào
hành
tinh ánh sáng, trên nguyên
tắc không phải là một
công việc khó khăn hay
nghiêm
trọng; vì lẽ, bạn không
cần phải làm thêm cái
gì hết mà chỉ có
bỏ bớt [những
bám víu] đi thôi! Trong
một giây phút, nếu bạn
có thể bỏ đi những
bám víu và để
cho dòng tâm thức của
bạn trôi chảy trong sự
tịnh lạc, lập tức bạn
có thể trở
về với đôi mắt tinh
nguyên. Để làm
được điều
đó, bạn nên tư duy
về ba tư tưởng
trọng yếu của cuộc
sống như sau:
1. Bản chất
của cuộc đời là
vô thường, bạn không
thể biến nó trở thành
thường hằng; do đó
hãy chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu
trong dòng biến dịch-vô
ngã một cách không phản
khán. Hãy thả mình
để lắng nghe
từng nhịp thở của
cuộc sống!
2. Mục
đích của cuộc sống con
người là tìm kiếm
hạnh phúc, và cao hơn là
chân lý; vậy thì, nếu
sự buông bỏ bám víu
vào “cái
tôi”, một cách nào
đó, có thể sinh khởi
nguồn hạnh phúc cho ta, tại sao
không
thực tập sự buông bỏ
để sống hạnh phúc.
3. Cuộc sống
vốn là một hợp thể
không có thật tính,
và do đó nó luôn bao
hàm cả cái tốt lẫn
cái xấu. Nếu chỉ chấp
nhận cái mình ưa
thích và chạy trốn cái
mình không ưa thích, thế
là mình trở thành kẻ
bị động.
Ngược lại, khi bạn sẵn
sàng chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu như
thế là tự biến
mình thành kẻ chủ
động từ một gã
cuồng si bị động. Sự
thật là, khi nào bạn làm
chủ được mình,
lúc đó bạn sẽ
làm chủ được
thế giới chung quanh mình.
Ba tư
tưởng này, trong vô vàn
tư tưởng khác, sẽ
giúp bạn trước hết
là rửa sạch đôi
mắt của mình và sau
đó tạo dựng cho tâm
thức
của chính mình một sự
bình yên nội tại.
Người Tỉnh Thức Bình
Yên, với đôi mắt
tinh nguyên không vẩn
đục, đã nhìn
thấy như thật rằng bản
chất của cơ thể này,
của cảm thọ này, của
mộng tưởng này, của
tư duy này, và của ý
thức này là một
hợp thể nhân duyên, có
đó rồi mất đó.
“Cái tôi” thực
chất chỉ là một ý
niệm hão
huyền. Do thấy như vậy
mà mọi phiền não
được rủ sạch,
và người đã
vượt thoát
mọi khổ đau.
3. Biển và
Sóng
Bạn thân
mến,
Để có
thể chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu một
cách
tự tại, bạn cần phải
nắm chắc trong tay một nguyên
lí đó là tính
cách “vô phân
biệt” (không hai, không
khác) của Bát nhã. Dĩ
nhiên khái niệm “vô
phân biệt”
được dùng ở
đây không có nghĩa
là “không biết tốt,
xấu”, mà trên căn
bản nó là
một “thách thức”
của cái tự ngã
độc tôn và vị
kỷ. Vì thế, vấn nạn
được đặt ra ở
đây là: dẫu biết
rằng chân lý của cuộc
sống là vô thường
và bạn cũng có thể
chấp nhận điều
đó một cách dễ
dàng, nhưng từ trong đáy
thẳm của tâm thức, làm
sao bạn có thể chấp
nhận rằng hạnh phúc
không khác với khổ đau,
hay hạnh phúc
và khổ đau là một (sinh
tử tức Niết bàn), hay
như Kinh Trái Tim nói:
“sắc tức là không,
không tức là sắc”? Hay
nói khác hơn, là một con
người chúng
ta khó có thể dung hóa hai
ý niệm này làm một.
Vì lẽ, theo tập quán
của suy tư,
ta luôn cho rằng hạnh phúc
và khổ đau là hai yếu
tố hoàn toàn trái
ngược nhau,
giống như thiên
đường và địa
ngục. Vậy thì làm sao
để lĩnh hội
được ý nghiã
“bất dị” và
“tức thị” (không hai,
không không khác) này?
Chúng ta hãy
lấy một thí dụ về
sóng và nước từ
đại
dương. Trên thực tế,
sóng là biểu hiện của
nước và nước là
bản chất của sóng;
sóng khác nước một
điểm duy nhất đó
là sự biểu hiện
nó—trồi lên lặn
xuống liên
hồi theo chuyển động
của gió—mà thôi. Do
đó, về mặt hiện
tượng, sóng và
nước có
vẻ như hai, tức là sóng
khác với nước, nhưng
về mặt bản thể, sóng
và nước là
một, vì cả hai có cùng
một thể: nước.
Đấy là ý nghiã
không hai, không khác của
Bát nhã. Từ thí dụ
này, bạn có thể thấy
rằng khổ đau và hạnh
phúc tuy khác nhau
về mặt biểu hiện, như
sự khác nhau giữa vui và
buồn, nhưng về mặt bản
thể, cả
hai là một vì chúng
đều phát sinh từ một
dòng tâm thức. Sự thật
là, vui cũng ở
tại tâm mà buồn cũng
ở tại tâm. Khổ đau
và hạnh phúc, cho đến
các phạm trù
thuộc cảm thọ, mộng
tưởng .v.v. cũng đều
như vậy.
Tại sao bạn
cần thiết phải suy gẫm
về hình ảnh của
sóng và nước? Vì
rằng càng quan sát về nó
bạn càng thấy rõ hơn
về tác dụng của
sự phân biệt, nhất là
khi sự phân biệt đó
nằm trong cơn khao khát của
sự bám
víu cuồng si vào “cái
tôi” và “cái
của tôi”, cũng như
vào thế giới của dục
vọng. Sự phân biệt dựa
trên căn bản của tự
ngã là con đường
dẫn đến mọi sự
bám
víu, cố
chấp.
Trên thực
tế, nếu cuộc sống của
bạn càng dựa trên
đối đãi phân
biệt chừng nào thì bạn
càng cảm thấy bất an và
căng thẳng chừng
đó. Bạn có thể,
chẳng hạn như, sẽ thấy
rằng những người chung quanh
không tốt
như bạn, không bằng
bạn, hay ở đẳng cấp
khác với bạn, và do
đó bạn không cảm
thấy dễ chịu để
trải lòng ra với họ.
Những cái nhìn như thế
chính là hiện thân
của sự vị kỷ bắt
nguồn từ ý niệm phân
biệt. Khi càng chìm sâu
vào ý niệm phân
biệt, đO |