|
|
|
Sám Hối
Bạn thân mến, Nếu bạn đã một lần tham dự khóa tu tại Đạo Tràng, bạn sẽ thấy rằng bắt đầu mỗi khóa tu, đại chúng đều tập trung trước Phật đài để cử hành lễ Sám hối. Đó là một khóa lễ quan trọng nhầm tịnh hóa con người (thân và tâm) của mình. Ở các thiền môn, khóa lễ Sám hối này được thực hiện hai lần mỗi tháng, đặc biệt là trước khi bạn thọ giới, năm giới hay mười giới. Sám hối mang một ý nghĩa đặc biệt trong tiến trình tu tập của bạn. Nó không đơn giản chỉ là một hình thức nghi lễ. Trong giới luật của đạo Phật, Sám hối được thực hiện theo nhiều cách khác nhau tùy vào từng trường hợp khác nhau. Ở đây, xin giới thiệu với bạn ý nghĩa căn bản của việc sám hối như là một phần quan trọng trong cuộc hành trình tâm linh của bạn. 1.
Ý Nghĩa Sám Hối: Từ Sám,
trong Phạn ngữ (Sanskrit)
được gọi là
Ksamayati, tiếng
Anh dịch
là repentance—ăn
năn, hối hận, Hán dịch
là hối quá—hối
hận vì những lỗi lầm
đã
làm (sám kỳ tiền khiên)
và ăn năn chừa bỏ
(hối kỳ hậu quá). Do
vậy, trên căn bản,
sám hối bao gồm hai phần: Sám—ăn
năn
lỗi cũ, và hối—nguyện
chừa bỏ lỗi sau
(tức là hứa với lòng
mình rằng sẽ không tái
phạm nữa). Nói một cách
ngắn gọn
khi bạn sám hối có nghĩa
là bạn ý thức rằng
mình đã làm điều
lỗi lầm; do ý thức
như vậy, bạn ăn năn
và hẹn với lòng mình
rằng mình sẽ không bao
giờ tái phạm
hay làm điều tội lỗi
nữa. Đó là ý
nghĩa căn bản của sám
hối. Tuy nhiên,
khi
thực hiện nghi thức sám
hối ở Đạo Tràng
hoặc ở nhà riêng của
bạn, bạn phải
trang nghiêm thân và nhất
tâm cầu sám hối
trước ba ngôi Tam Bảo.
Với lòng thành
kính thực thụ của bạn,
sau khi sám hối, ba
nghiệp—thân, miệng, và
ý—của bạn sẽ
được
thanh tịnh. Mức độ chí
thành của bạn càng sâu
thẳm chừng nào thì tâm
của bạn sẽ
được nhẹ nhàng
chừng đó, bất kể khi
sám hối bạn đối
trước Tam Bảo hay đối
diện
với chính mình trong căn
phòng của mình. Đức
Phật dạy rằng trên
đời có hai hạng
người cao qúy: một là
hạng người vô tội,
sống thánh thiện và
không phạm phải bất
kỳ một lỗi lầm nào,
dù nhỏ nhoi; một hạng
khác, là người có
ý thức về tội lỗi,
có nghĩa là khi phạm lỗi
thì biết ăn năn và
chí thành sám hối. Là
một con người
bình thường, làm sao
chúng ta có thể tránh
khỏi những lỗi lầm
hoặc vô tình, hoặc
cố ý? Ở
đây, vấn đề ý
thức về tội lỗi trong
đạo Phật được
nhìn nhận một cách cụ
thể qua ba nền tảng của
một con người, đó
là thân, miệng, và ý.
Thân có ba nghiệp là (i)
giết và làm hại
chúng sinh, (ii) trộm cắp tài
sản của kẻ khác, (iii)
tà dâm—không chung thủy
với
người hôn phối, vì
dục tình mà phá hoại
hạnh phúc hôn nhân và gia
đình của kẻ
khác. Miệng có bốn
nghiệp là (i) nói dối
với mục đích hại
người và hại mình,
(ii) nói lưỡi đôi
chiều, (iii) nói lời thêu
dệt, và (iv) nói lời thô
lỗ, xấu ác.
Ý có ba nghiệp là: (i) tham lam
bỏn xẻn, (ii) sân hận,
thù oán, và (iii) tà
kiến,
cố chấp. Đó là
mười ác nghiệp mà
chúng ta thường phạm
phải. Dựa
vào mười
nghiệp này, bạn có thể
thấy rằng, ý thức tội
lỗi trong đạo Phật bao
gồm cả phần
tâm thức chứ không
đơn giản chỉ là
hành vi phạm tội. Vì
lẽ, thông thường luật
pháp xã hội sẽ kết
tội bạn khi nào có
đầy đủ bằng
chứng về hành vi phạm
tội của
bạn; nhưng ở đây, cho
dù bạn chưa thực hiện
hành vi phạm tội, trộm
cắp chẳng hạn,
bạn chỉ vừa khởi niệm
tham—muốn lấy tài sản
của kẻ khác—như
thế là bạn đã
phạm
tội, dầu chỉ ở mức
độ khởi niệm. Vì
vậy, bài kinh mà chúng ta
thường tụng trong
khi cử hành lễ Sám hối
đó là: Tội
từ tâm khởi, đem tâm
sám Tâm
được tịnh rồi,
tôi liền tiêu, Tội
tiêu tâm tịnh thảy
đều không, Thế
mới thật là chân sám
hối. Và
mục đích của sám
hối, như đã đề
cập, là
nhằm từng bước tịnh
hóa ba nghiệp của thân,
miệng, vá ý (thân tâm)
trên con đường
tu tập của chúng ta. Những
gợi ý sau đây sẽ
giúp bạn hiểu rõ hơn
ý nghĩa của sự
tịnh hoá thân
tâm bằng phương
pháp sám
hối. 2.
Con người thật của
chính mình: Trong một
ý nghĩa nào đó,
mỗi con người của
chúng ta có ít nhất ba
hiện thân khác nhau, một
là con người vật lý, hai
là con
người danh xưng, và ba là
con người thật. Đối
với con người vật lý,
ai cũng thể
thấy được và
tiếp xúc được.
Đó là con người
bằng xương bằng thịt,
được nuôi dưỡng
bởi các thực tố và
được trưởng
thành qua giáo dục của
các môi trường như gia
đình,
học đường, và
xã hội. Đối với con
người danh xưng, nếu
không thể thấy
được bằng
mắt thì người ta cũng
có thể nghe được danh
xưng, như tên tuổi trong ID card,
bút
danh, bút hiệu, biệt hiệu,
.v.v., hay nhận biết
được từ những di
sản còn lại hoặc
qua các phương tiện sách
báo. Chẳng hạn, những
gì chúng ta biết về
Thánh Gandhi
là nhờ vào di sản còn
lại của ông, vì chúng ta
không phải là người
cùng thời với
ông, hoặc là chỉ biết
ông qua sách báo. Nhưng
đối với con người
thật, tức là con
người của chính mình,
thì không ai khác có thể
biết được, ngoài
trừ chính bản
thân của mình. Thật
vậy, những gì bạn suy
nghĩ, ôm ắp, lo âu, khát
vọng, hay mơ
tưởng chỉ có bạn
mới biết một cách
đích thực mà thôi.
Ở đây, câu hỏi
được đặt
ra là ba hiện thân này có
liên quan gì đến việc
sám hối? Vâng, chính khi
bạn sám
hối có nghĩa là bạn
trở về với con người
đích thực của mình,
một con người “thành
thật” vượt lên
trên mọi hình tướng
bên ngoài cũng như mọi
danh xưng đối đãi. Thực
tế cho thấy rằng, một con
người thường
được gắn liền
với một loại danh xưng
nào đó chẳng hạn
như bác sỹ, tiến sỹ,
kỹ sư,
nhà nông, công nhân, thợ
thuyền .v.v. Về mặt xã
hội, người có
địa vị càng cao,
thì danh xưng càng lớn.
Nhưng bạn nên nhớ rằng,
cái danh xưng chỉ phản
ánh một phần
nào đó của
người mang danh xưng mà
thôi. Danh xưng thường
chỉ gắn liền với nghề
nghiệp của mỗi người
chứ nó không phải là
tất cả những gì thuộc
về con người đó.
Do vậy, có khi một
người nghèo khổ, không
danh vọng và không có
địa vị xã hội,
nhưng anh ta sống chân chất, cao
thượng, và đầy
đủ các phẩm chất cao
qúy của bốn
tâm vô
lượng—từ, bi, hỷ,
xả. Và ngược lại,
có khi một người giàu
có, có địa vị
cao trong xã hội, có quyền
lực trong tay, có danh xưng to
tát, nhưng anh ta làm
những điều xấu ác, tham
lam, bỏn xẻn, tà kiến,
cố chấp, .v.v. Chính vì
vậy, pháp
bình đẳng sám hối
là một pháp môn cao qúy
giúp cho những ai có lòng
thành muốn
sửa đổi những lỗi
lầm của mình mà không
hề phân biệt tuổi tác,
giới tính, chủng
tộc, hay màu da. Và do
đó, một lần sám
hối là một lần bạn
có cơ duyên nhìn lại
con người thật sự của
mình, một con người vốn
rất yếu đuối
trước những cám dỗ
của
dục vọng, một con
người đáng
thương bởi những sợ
hãi và lo toan, và trên
hết là
một con người của sự
chân thành, có khả năng
chuyển hóa mọi lỗi lầm
để trở thành
thánh thiện, tôn qúy. 3.
Mặc Cảm Tội Lỗi: Trên
thế gian này, ai là
người không mắc
lỗi lầm? Đặt câu
hỏi như thế là
để thấy rõ rằng
phạm lỗi không phải là
điều đáng
sợ, nhưng cái đáng
sợ, chính là không biết
ăn năn sám hối, hay nói
khác hơn là đánh
mất ý thức về tội
lỗi. Thực tế cho thấy
rằng, “không có thánh
nhân nào mà không
có một quá khứ lỗi
lầm, cũng như không có
tội nhân nào mà không
có hy vọng về một
tương lai tương
sáng.” Trong ngày lễ
Phật đản của
Đức Thích Ca Mâu Ni,
chúng ta
xướng rằng: “A Tỳ
ngục tốt, sơ phát thiện
tâm.” Tức là,
Đức Thích Ca Mâu Ni
trong vô lượng kiếp quá
khứ vốn là một sinh linh trong
cõi ngục A tỳ, do phát
khởi thiện tâm mà Ngài
tiến tu cho đến ngày
thành Phật. Hoặc trong truyện
tiền
thân của Phật giáo Nam
Truyền (Bổn Sinh), Đức
Thích Ca Mâu Ni, trong nhiều kiếp
sống quá khứ đã
từng là những thiện thú
như voi, sư tử, .v.v. để
cứu vớt đồng
loại. Mặc dầu, chúng ta
có thể hiểu những mẫu
chuyện này theo nhiều cách
khác
nhau, huyền thoại, ẩn dụ, hay
cổ tích .v.v., nhưng
điều cơ bản ở
những mẫu chuyện
này là nhấn mạnh
đến một tiến trình
chuyển hóa tội lỗi và
tu tập các công đức
của
chúng hữu tình. Vì thế,
bao lâu bạn còn biết ăn
năn sám hối, thì bấy
lâu bạn còn
có cơ hội để
chuyển hóa và tu tập. Trong
giòng luân lưu của tâm
thức, sám hối
không bao giờ là một
việc muộn màng, trừ phi
bạn đã đánh mất
lương tri của mình.
Thế
nhưng, có hai chướng
ngại lớn lao luôn
ngăn cản bạn thực hành
sám hối một cách chí
thành, đó là cái
mặc cảm tự tôn và
mặc cảm tự ty. Cả hai
loại mặc cảm này
đều được xem là
mặc cảm tội lỗi.
Đối với
loại thứ nhất, mặc
cảm tự tôn, bạn có
thể cho rằng mình là
người không có làm
gì
lỗi lầm, thế thì tại
sao phải sám hối vá sám
hối với ai? Một lối
nói như thế quả
thực là tội nghiệp và
đáng thương. Hãy
thử suy nghĩ như thế
này: Để có mặt
trong ngày hôm nay bạn đã
thọ ơn biết bao nhiêu
người—cha mẹ, anh em,
sư trưởng,
bằng hữu, gia đình, xã
hội, đất nước,
quốc gia, .v.v. Trong khi thọ ơn
đó bạn đã
làm được gì cho cha
mẹ, thầy bạn, anh em, .v.v.
Đó là chưa kể
đến việc bạn
đã gây
ra bao lo âu, buồn bực cho cha
mẹ, hay những người bên
cạnh bạn trong những lúc
bạn ngả bệnh, trong lúc
bạn còn ở tuổi ấu
thơ, những lúc bạn hành
xử một cách dại
khờ, hay trong những lúc bạn
nổi cơn sân si, kiêu
mạn, tham lam, thù hận, tranh
chấp, .v.v. Thử đếm,
bạn đã nói dối bao
nhiêu lần vì lợi ích cho
riêng mình,
bao nhiêu lần bạn làm
hại đến chúng hữu
tình, hay bao nhiêu lần bạn
có thầm ý bất
chính, bao nhiêu lần bạn
nổi sân si, và sự sân si
của bạn đã ảnh
hưởng như thế
nào đến bản thân
của bạn và những
người chung quanh bạn, .v.v.?
Càng quán niệm
như thế, bạn càng thấy
rõ những lỗi lầm trong con
người của mình hơn. Do
đó, một
con người bình thường
mà tự cho rằng mình
không có lầm lỗi gì
hết và không cần
sám hối, có nghĩa là
bạn đã trở thành
bất bình thường.
Điều này rất nguy hiểm
cho cuộc sống cả hiện
tại và tương lai của
bạn. Vì với một tâm
niệm như thế, bạn
sẽ không bao giờ có cơ
hội điều chỉnh hay
chuyển hóa những thói
hư, tật xấu của
bạn. Ngược lại,
đối với cái mặc
cảm tự ty, bạn có thể
cho rằng, mình mắc nhiều
lỗi lầm quá nên không
thể nào sám hối
được, hoặc là
muốn sám hối nhưng cái
nỗi ám
ảnh của tội lỗi quá
sâu nặng, nó lấn áp
mọi thiện niệm trong tâm
thức của bạn bằng
cách giam giữ bạn trong bóng
tối của khổ đau. Do bị
ám ảnh hoặc suy nghĩ như
thế
mà bạn tự xa lánh mọi
người, sống cô lập
một mình và thường hay
khóc thầm, có
khi lại nghĩ đến việc
kết thúc đời sống
này càng sớm càng tốt.
Đây quả là một
điều
tệ hại hết sức! Nó
không những đưa bạn
về với cuộc sống thụ
động, bi quan, mà còn
đánh mất mọi khả
năng chuyển hóa con
người và cuộc
đời của bạn, và
thậm chí có
khi nó đưa đẩy
bạn đến một thế
giới liều lĩnh, phó
mặc, sống theo kiểu
“phận bèo
đau quản nước xa, lênh
đênh đâu nữa
cũng là lênh
đênh.” (Kiều) Thực
chất của cả
hai trường hợp trên là
ở chỗ bạn không thấy
được đạo lí
vô thường và vô
ngã của
cuộc sống. Vì cả hai,
mặc cảm tự tôn và
tự ty, đều phát sinh
trên căn bản của cái
tự ngã cá thể: cái
tôi, cái của tôi, và
cái tự ngã của tôi. Bao
lâu bạn còn đắm
chìm trong sự kiêu căng
của cái bản ngã của
chính mình, thì bấy lâu
bạn không
thể sám hối bằng tất
cả tấm lòng chí thành,
chí kính được.
Vì thế, bạn nên nhớ
rằng, bản ngã bao giờ
cũng là nguồn động
lực làm phát sinh tội
lỗi, và nó
cũng đồng thời là
cái động lực xúi
giục bạn che dấu tội
lỗi. Bạn
hãy quán niệm rằng: Tội
tiêu tâm tịnh thảy
đều không, Thế
mới thật là chân sám
hối. 4. Tự
Ngã và Tội Lỗi: Hẳn
bạn cũng bâng khuâng
rằng tại sao “tội
tiêu, tâm tịnh thảy
điều không, thì mới
được gọi là
chân sám hối”? Ở
đây, “tội
tiêu” có nghĩa là
bạn đã rửa sạch
tội lỗi bằng cách ăn
năn sám hối, làm lành
lánh
dữ, và tu tạo công
đức để đền
bù những lầm lỗi của
mình. “Tâm tịnh”
có nghĩa là
khi bạn đã đạt
đến một sự thanh tịnh
tuyệt đối, thì mọi
pháp đều không còn
tác
dụng gì đối với
tâm thức của bạn, vì
lẽ bản chất của các
pháp đều do nhân duyên
sinh khởi nên chúng không
thực có tự tính. Khi
thành tựu pháp sám hối
như thế tức
là bạn đã thành
tựu chân sám
hối—cả tội và
tâm đều vắng lặng
như hư không. Tất
nhiên để được
thành tựu như thế, công
việc đầu tiên cũng
như công việc cuối cùng
đó là, bạn phải
loại trừ sự kiêu căng
của tự ngã và gốc
rễ của nó nằm sâu trong
mỗi niệm tham ái và
chấp thủ. Cho đến khi
nào, tội lỗi đã
không còn, sự ăn năn
cũng không còn, cho đến
cái ý niệm về sự
ăn năn cũng không còn
vương vấn trong
tâm thức của bạn; lúc
bấy giờ tâm của bạn
là một tinh thể toàn
bích và vô nhiễm.
Chính nơi đây, bạn
đã thực thụ thành
tựu “chân sám
hối”. Tại đây,
rõ ràng khi bạn
đạt đến “chân
sám hối” cũng có
nghĩa là bạn đạt
đến “chân hạnh
phúc” vốn thanh
tịnh, vô nhiễm mang tính
chất của Niết bàn. Tuy nhiên
trên thực tế, mặc dù
đã ăn năn
sám hối, song cái ý thức
về sự ăn năn vẫn
còn bám chặt trong gốc
rể của tự ngã,
vì thế bạn vẫn phải
tiếp tục gánh chịu đau
khổ bởi chính sự ăn
năn, hối hận đang
mãi miết khuấy động
tâm hồn của bạn. Mỗi
lần nhớ đến lỗi
lầm trong quá khứ bạn
lại xót xa, đau khổ. Như
thế có nghĩa là cái
căn để của tội
lỗi vẫn còn đeo bám
trong tâm thức xâu xa của
bạn. Do đó, sau khi đã
chí thành sám hối, bạn
cần có
thêm thời gian để thực
tập quán chiếu về tính
chất vô ngã, vô
thường của các pháp
hiện hữu và duyên khởi
chung quanh đời sống của
chính bạn; đồng thời
nỗ lực vun
bồi các công đức
vô lậu (ba la mật). Tức
là làm việc công
đức bằng cái tâm
từ
bi hỷ xả, không phân
biệt, không chấp thủ,
và không điều kiện. (xem
thêm bài Tâm
Bồ Đề) Nói
tóm lại, con đường tu
tập bằng pháp bình
đẳng Sám hối
đóng một vao trò quan
trọng trong mọi tiến trình tu
tập của chúng
ta. Vâng, chính sám hối
là con đường duy nhất
để chuyển hóa mọi
lỗi lầm của mình
thông qua sự tịnh hóa ba
nghiệp. Nói khác đi, sám
hối là con đường
“thánh hoá”
cuộc sống của chúng ta,
nó làm cho cuộc sống
lầm lỗi của chúng ta
trở nên có ý
nghĩa và cao đẹp. Chính
vì thế, trong đạo Phật
có nhiều phương thức
sám hối để
giúp bạn chuyển hóa
nghiệp lực của chính
bản thân mình, vốn
đã được tích
tụ từ
vô lượng kiếp. Một
vài phương pháp sám
hối phổ thông đó
là, lễ lạy hồng danh
của
chư Phật và chư Bồ
Tát; phát lồ sám hối
trước chúng tăng thanh
tịnh, phát lồ sám
hối với lương tâm
của chính mình trước
sự chứng minh của Tam Bảo trong
mười phương,
thực tập thiền định,
tu tập các hạnh Ba la mật, vun
bồi công đức thông qua
các
việc thiện nguyện, .v.v. Xin
cầu nguyện cho bạn sớm
thành tựu “chân sám
hối” và
xin chúc mừng bạn trong sự
đạt đến “chân
hạnh phúc”. (Trích: Khai Thien, Foundation
of
Your Spiritual Journey)
|