|
|
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VÀ TRIẾT HỌC TÁNH KHÔNG
Thích Tâm Thiện
~oOo~
Chương I
TỔNG LUẬN
Nói đến triết học Phật giáo là nói đến
một hệ thống tư tưởng vô cùng uyên
áo và đa diện. Bởi lẽ, trong quá trình
truyền bá chánh pháp, từ thời Phật giáo
Nguyên thủy (1) đến Phật giáo Bộ phái và
Phật giáo Phát triển (Mahayana), đã xuất hiện
nhiều học thuyết hoặc về Phật giáo, hoặc
có liên quan đến Phật giáo,
mà những học thuyết hay hệ tư tưởng đó thường
có những điểm bất đổng. Tất nhiên, lý do của những
điểm bất đổng phần lớn là tùy thuộc vào mức độ
tâm chứng khác nhau. Điều này được nhìn thấy
rõ qua các lần kết tập kinh điển (2). Tỉ dụ, lần thứ
nhất, đại biểu kết tập gổm 500 vị A La Hán ; lần thứ hai, 700 vị
A La Hán ; lần thứ ba, 1.000 vị Tăng sĩ được tuyển chọn ;
và, lần thứ tư, 500 vị học giả. Từ đó, cho thấy
rằng, càng về sau, các bậc Thánh trí
(A La Hán) càng giảm dần, thế có nghĩa
là năng lực trí tuệ - tâm chứng, một yếu tố
vô cùng quan trọng trong việc giải minh
giáo lý của Phật (3) của các nhà Phật
học đang trên đà suy giảm. Từ đó, chánh
pháp, thay vì "phải trực nhận", "phải
tự mình thể nghiệm", lại được đưa ra để thảo luận,
nghĩa là phải viện vào ngôn ngữ. Và,
khi ngôn ngữ trở nên quan trọng, đóng vai
trò trung tâm, thì các nhà luận giải
thường bị quá đà. Và, càng đi xa
trong việc diễn dịch, thì càng xa rời những giáo
huấn vốn bình dị, chân phương và
thực tiễn đi vào dòng tâm thức thế gian
mà Phật đã dạy. Do đó, có thể
nói rằng chính những quan điểm bất đổng trong việc giải
minh và cắt nghĩa giáo huấn của Phật mà
phát sinh các học thuyết, quan niệm khác nhau
về Phật giáo. Điều này, một mặt làm cho
giáo nghĩa trở nên phong phú, đa diện ; nhưng mặt
khác, nó làm nhân cho sự phân
hóa giáo đoàn Phật giáo ; và
có khi xa rời hẳn bản ý của Phật (4). Vì thế,
trong việc nghiên cứu triết học Phật giáo ngày nay,
không thể chỉ thuần túy dựa vào lịch sử phát
triển của Phật giáo, mà phải đi theo tiến
trình tư tưởng. Thông qua tiến trình tư
tưởng này, chúng ta có thể tìm hiểu triết
học Phật giáo một cách chính xác và
dễ dàng (5). Đây là lý do tại sao các
nhà Phật học chuyên môn khi đánh
giá, nhận định về tư tưởng triết học Phật giáo
thường dùng đến "nguyên tắc" phân kỳ (6), như
là một phương pháp phân tích
và bình phẩm về triết học sử Phật giáo.
Đặc biệt là đối với Phật giáo Trung Hoa, bên cạnh
"nguyên tắc" Phân kỳ, lịch sử còn có một
hệ thống phân kỳ giáo nghĩa được gọi bằng danh từ
"Phán giáo". Và hệ thống Phán
giáo của Phật tử Trung Hoa có thể được xem là
một sáng tạo lớn trong việc giải minh các hệ thống triết
học Phật giáo. Nó được bắt đầu từ thời Tống (thời
đại Nam Bắc triều, 317-589) ; thông qua việc nghiên
cứu kinh Niết Bàn mà ngài Đạo Sinh đề xuất học
thuyết "Đốn ngộ thành Phật", ngài Tuệ Quán đề xuất
học thuyết "Đốn tiệm bất định". Và học thuyết của Tuệ
Quán (7) được xem là một trong những học thuyết đầu
tiên trong việc khai sáng hệ thống phán
giáo, và ông trở thành người tiên
phong trong các hệ thống phán giáo của Phật
học Trung Hoa. Sự kiện này đã ảnh hưởng lớn lao đến
các tông - phán giáo sau này (8).
Ở đây, khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng - triết học
Tánh Không, hẳn nhiên chúng ta phải dựa
vào các học thuyết phân kỳ để minh định tiến
trình của nó. Song, trong tự thân của các
học thuyết phân kỳ lại có những điểm tương đổng, dị
biệt. Vì thế, trên nguyên tắc, một phần nào
đó phải dựa vào tiến trình lịch sử, mà ở
đây, khởi nguổn từ Ấn Độ, hay nói đúng hơn
là từ Phật giáo thời Nguyên thủy. Đây
là điểm nhất quán và luôn luôn được
đánh giá cao bởi các nhà Phật học
chuyên môn. Vì lẽ, kinh tạng Phật giáo
Nguyên thủy thường được xem là cội nguổn của tư tưởng
triết học Phật giáo, dù bất kỳ lúc nào
và ở đâu. Đó chính là những bộ
kinh được kiết tập từ ký ức của các vị thánh
A La Hán. Và, những gì được ghi lại ở
đây là những lời dạy rõ ràng,
chân xác, minh bạch từ lời dạy của Phật cho từng đối tượng
khác nhau và trong từng thời điểm khác nhau.
Những giáo lý như Tứ diệu đế, Bát
chánh đạo, Tam pháp ấn, Duyên khởi -
Vô ngã v.v..., nó vừa là nền tảng lại
vừa là đỉnh cao của tư tưởng triết học Phật
giáo. Và cũng chính những giáo
lý này được xem là khuôn vàng
thước ngọc cho việc giải kiến tất cả quan điểm Phật học trong
mối quan hệ mật thiết với các lĩnh vực văn hóa và
văn minh Phật giáo. Từ đó, có thể kết luận rằng,
tạng thư Nikàya chính là cội nguổn của lịch sử tư
tưởng triết học Phật giáo. Cho đến tất cả kiến giải
triết học về sau đều có ảnh hưởng sâu đậm đến cội
nguổn này.
Cũng vậy, tư tưởng triết họcTánh Không, theo quan điểm của
các nhà Đại thừa (Mahayanists) như trong truyền
thống, cho rằng nó được khai sinh từ văn hệ
Bát Nhã, một hệ thống kinh tạng Đại thừa phát
sinh từ Đại chúng bộ (Mahàsamghikà), lần đầu
tiên xuất hiện tại miền Nam Ấn, trung tâm truyền
bá tư tưởng của Phật giáo Phát
triển (Mahayana Buddhism). Nhưng thực chất, dòng triết
học này vốn đã được thai nghén từ trong kinh
tạng Nikàya (9) trên nền móng cơ bản của những
giáo lý Duyên khởi, Vô ngã, Vô
thường... Trong suốt thời gian, từ khởi nguyên cho đến khi
trở thành một hệ tư tưởng triết học đặc thù, mọi luận
thuyết đều phải trải qua nhiều giai đoạn, như khởi nguyên,
hệ thống hóa, độc lập hóa v.v... Điều này được
nhìn thấy rõ ràng qua các mốc lịch sử
phân kỳ ; tương tự như thế đối với lịch sử tư tưởng triết
học Tááánh Không. Nó được phát
khởi từ những lời dạy mộc mạc, cụ thể của Phật. Đến sau khi Phật diệt
độ, nó tiếp tục được vừa sàng lọc, vừa phát
triển qua các giai đoạn của Phật giáo
Nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái và đỉnh
cao là Phật giáo Mahayana. Và tạng thư đầu
tiên được hình thành của Phật giáo Mahayana
chính là hệ thống kinh tạng Bát Nhã ;
và tư tưởng trung tâm của nó là
Tánh Không (Sunyàta).
Nhưng tại sao Tánh Không lại xuất hiện như một trào
lưu tư tưởng mới mẻ và táo bạo, để phủ nhận mọi quan
điểm triết học đa nguyên-thực tại-luận, vốn được xem là
đối đầu với nó ? Điều này, một cách nào
đó, được giải thích rõ qua nội dung của lịch sử
phân kỳ mà phần sau chúng ta sẽ bàn
đến.
Nếu căn cứ trên bình diện lịch sử, tư tưởng Phật
giáo Mahayana được xuất hiện một cách tiệm tiến từ
Phật giáo Bộ phái, cho đến thời đại của vua Asoka (10)
và kế đó là vua Kaniska, thì tư tưởng Đại
thừa - Bát Nhã đã bước đầu hình
thành (11). Và từ đó, hàng loạt kinh điển
thuộc Đại thừa giáo xuất hiện, như kinh Hoa Nghiêm
(Avatamsaka), kinh Duy Ma, kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, kinh
Pháp Hoa, và các kinh thuộc phần giáo Tịnh
độ. Và, trong mỗi bộ kinh đều hàm chứa một nội dung độc
lập ; tuy nhiên, về mặt giáo nghĩa, các bộ kinh
đó chỉ bỗ sung cho nhau và hoàn toàn
không hề chống trái, mặc dầu có khá nhiều
học thuyết khác biệt. Song, như đã nói ngay từ
đầu, sự khác biệt và bao dung đó chỉ là
tính cách đa diện của pháp (xuất hiện như
"pháp nhĩ như thị") (12) mà thôi. Chẳng
hạn, học thuyết trung tâm của Bát Nhã
là "vọng tâm duyên khởi" ; của Hoa Nghiêm
là "chân tâm duyên khởi" ; ở Duy Ma là
"bất nhị" ; ở Pháp Hoa là "khai thị ngộ nhập"
và "Tam thừa đổng nhất" v.v...
Tuy nhiên, đối với Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Duy
Ma, Lăng Nghiêm v.v..., thì sự truyền bá của
nó được thích ứng hóa vào đời sống triết
lý thời đại một cách ôn hòa ; ở
đây, tuyệt nhiên không có bất kỳ một sự phản
ứng nào. Trái lại, đối với Bát Nhã, sự xuất
hiện của nó như là một hệ tư tưởng mới lạ, phủ dẫm
mọi định kiến, học thuyết cỗ điển, mọi luận thuyết thời danh trong
truyền thống ; tựa hổ như ngọn sóng thần từ đại dương mênh
mông, bôỵng phút chốc hiện hữu, đã xóa
nhòa mọi cơ đổ gập ghềnh được xây dựng từ nghìn năm
trên bãi cát trắng bao la. Tánh Không
của Bát Nhã giáng xuống thời đại như một thứ sấm
sét trong đêm tối cô liêu, làm cho tất
cả hiện hữu của muôn ngàn dị biệt đa thù trong
thinh không chợt hóa hiện rổi lại chìm vào
tăm tối. Mọi vật như đến rổi đi, như sinh rổi diệt, như
có rổi không. Chỉ trong một tích tắc, mọi sự
thể của trần gian đều hóa thành mộng mị, hư ảo, và
mọi nguyên lý bôỵng trở thành phi lý.
Đó là một thứ phi lý được bắt nguổn từ dòng
sống thực tại, một thứ thực tại mà Tam đoạn luận
(Syllogism) của Aristotle (13) bị bẻ gãy ngay trong
thành ngữ "Không ai có thể đặt
chân hai lần trên cùng một dòng nước "
(14) của Héraclite. Đó là thực tại toàn
chân, một thực tại bất khả thuyết bởi ngôn ngữ, vượt
lên trên mọi định kiến hoặc thường hằng, hoặc là
đoạn diệt. Bởi lẽ, đối diện với Tánh Không có
nghĩa là đối diện trước một sự thách thức vĩ
đại, mà con người chỉ có thể hoặc là
buông bỏ mọi cơ đổ của tự ngã để thể nhập thực tại
Tánh Không, hoặc là nghìn năm
phiêu bổng trong thế giới của hư vô không tận.
Tánh Không là như thế ! Bao lâu con
người còn cố gượng bám víu lấy một sự
thể nào, một ý niệm về một sự thể nào, cho
đến ngay cả cái ý niệm về thế giới ý niệm,
thì khi đó y vẫn chìm đắm trong tuyệt vọng khỗ
đau.
Do đó, có thể nói rằng, lịch sử của tư tưởng triết
học Tánh Không ra đời là một sự chuyển y
(Àsrayaparàvrtti) kỳ vĩ nhất trong lịch sử - tư tưởng
triết học Phật giáo. Tiếng nói đầu tiên của
nó là "Nhất thiết pháp không"
(15), nhằm phủ nhận một cách trọn vẹn thế giới quan đa
nguyên-thực tại ; mà trước đó, đã một thời
ngự trị trên dòng sông triết học cỗ đại Ấn Độ thời
bấy giờ. Rổi sau đó, chính nó là chất
xúc tác để hàng loạt hệ thống tư tưởng hậu Đại
thừa xuất hiện. Vì thế, khi nghiên cứu về lịch
sử tư tưởng triết học Tánh Không, hẳn phải bắt đầu từ
thế giới quan Phật giáo thời Nguyên thủy.
~oOo~
Trang chính
Chương 1
- Tổng Luận
Chương 2
- Thế Giới Quan Phật Giáo
Chương 3
- Sự Ra Đời Của Tánh Không Luận
Chương 4
- Học Thuyết Phân Kỳ Và Hệ Thống Phân Giáo
Chương 5
- Triết Học Tánh Không
Chương 6
- Đại Cương Triết Học Trung Quán
Chương 7
- Bản dịch Việt ngữ Trung Luận
Chương 8
- Chú Giải Các Thuật Ngữ Trong Trung Luận
~oOo~
|