|
|
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VÀ TRIẾT HỌC TÁNH KHÔNG
Thích Tâm Thiện
~oOo~
Chương II
THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO
Những gì được trình bày ở đây dĩ nhiên
là y cứ trên cơ sở của phương pháp nhận thức luận,
mà nhận thức luận thì tất yếu không phải là
bản thể luận. Vì thế, trên bình diện nào
đó, nó luôn mang tính cách giới hạn
mà có khi độc giả sẽ thấy rằng bối cảnh của triết học
có khá nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là trong sự
phân hóa của thời kỳ Phật giáo Bộ phái,
và trong các học thuyết phân kỳ.
I.- Thời Nguyên Thủy
Như đã đề cập (16), Phật giáo thời Nguyên thủy được
tính từ thời Đức Phật còn tại thế cho đến sau Phật diệt
độ khoảng 100 năm. Như thế, trong thời kỳ này, giáo huấn
của Phật như đã được kết tập, luôn luôn là
những chứng lý tối thượng trong mọi sự giải minh về triết học
(17), đặc biệt là về thế giới quan, vũ trụ quan và
nhân sinh quan. Mặc dầu được gọi là như thế, song, thế
giới quan, nhân sinh quan và vũ trụ quan, cả ba chỉ
là một. Vì lẽ, thế giới và vũ trụ, nếu thiếu
bóng nhân sinh, thì đương nhiên thế giới
và vũ trụ đó sẽ không được biết đến. Ngược lại, nếu
thiếu vắng thế giới và vũ trụ, thì làm sao xuất
hiện nhân sinh. Trên cơ sở của nguyên lý
Duyên khởi (Paticcasamùppàda), thế giới nhân
sinh và vũ trụ sẽ cùng sinh khởi và cùng
hoại diệt, mà nói theo ngôn ngữ của Hoa
Nghiêm là "tương tức", "tương nhập". Do đó, ở
đây nếu đặt ra bất kỳ một sự phân ly nào thì
đều rơi vào lôi lầm. Tính chất duyên khởi
đó, có thể được nhìn nhận một cách cụ thể,
như con người được sinh ra nhờ có thế giới vũ trụ, và
cũng chính con người là kẻ duy nhất biết nhận thức về sự
hiện hữu của thế giới vũ trụ. Nếu không có con người (biểu
hiện với tính cách là nhân sinh quan),
thì sự hiện hữu của thế giới quan và vũ trụ quan (biểu
hiện với tính cách là đối tượng) của nó sẽ
bị vô hiệu hóa, nghĩa là nói theo trực nghĩa
- có cũng như không. Điều này được xác định
cụ thể trong tạng thư Nikàya (18).
Kinh bảo rằng, sau khi thành đạo, Phật đến vườn Nai (Migadaya) ở
gần thành Bàrànasì tìm năm người bạn
cũ (19). Ở đó, sau khi gặp họ, Ngài đã thuyết
giảng về giáo lý Tứ diệu đế, và sau đó
Ngài giảng tiếp về đạo lý vô thường vô
ngã (20). Kể từ lần chuyển pháp luân đầu tiên
này, trong suốt 44 năm truyền bá chánh pháp
(thường nói là 45 năm thuyết pháp), Ngài
đã tiếp tục triển khai và hệ thống hóa giáo
lý đặc thù này, nhất là Tứ diệu đế, 12
nhân duyên, Tam pháp ấn. Đây là những
chủ đề căn bản mà Đức Phật thiền quán ở cội bổ đề.
Và cũng từ đây, Ngài chứng đắc đạo quả vô
thượng. Có thể nói rằng các giáo lý
về Bốn chân đế, Ba pháp ấn và 12 nhân
duyên là những gì cơ bản nhất để giải minh về thế
giới quan Phật giáo, và đó cũng là thế giới
quan Phật giáo thời Nguyên thủy.
Sự thể là như vầy. Bối cảnh của lịch sử tôn giáo
và triết học Ấn vào thời cỗ đại là một tỗng thể
của muôn ngàn khác biệt, mà theo kinh sử,
lúc đó, tức thời Đức Phật, đã có hơn 62
giáo thuyết hiện hành. Các giáo thuyết
đó phần lớn đều ảnh hưởng từ truyền thống của Ấn Độ giáo
(Hinduism), cũng gọi là Bà La Môn giáo
(Brahmanism), mà nỗi bật nhất là văn học Veda. Một thứ
văn học luôn bày tỏ sự thành kính, đắm say
và mơ mộng (21) của tâm hổn dân tộc Arya trước sự
huyền bí của vũ trụ. Do đó, văn học Veda, tự thân
nó vốn được xem như là một kháng thư mầu nhiệm của
tôn giáo. Nhưng yếu tính của nó - như được
trình bày trong Veda - quả là một âm bản
được kết tinh từ cuộc sống tràn đầy sinh lực của thế tục,
mà theo đánh giá của các nhà
nghiên cứu, đó là một nguổn sinh lực cô kết
và pha lẫn giữa thần cảm và nhục cảm (22). Bài thi
tụng viết về Usa, nữ thần Rạng đông, nàng là em
gái của Đêm, và tình nhân của thần Mặt
trời... (23), đãả nói lên điều đó (24).
Do ảnh hưởng rộng lớn và sâu đậm của văn học Veda, cụ thể
là những thi tụng (Rig Veda), những ca vịnh (Sama Veda), những
nghi thức tế tự (Yajur Veda) và những thần ngôn (Atharva
Veda) (25) mà các dòng triết học về sau trong
những thời đại kế cận, đặc biệt là thời Đức Phật, nảy sinh nhiều
học thuyết, hoặc là chính thống, hoặc là phi
chính thống (26). Và tất nhiên, thế giới quan trong
truyền thống của Ấn Độ - cỗ đại là những gì được mặc khải
(theo như quan niệm cỗ xưa) trong toàn bộ thánh điển
Veda. Đó là một thế giới quan kỳ bí, nhiệm mầu,
vừa nhất thể (quan niệm về Brahman) và vừa đa thần (quan niệm về
Deva) ; vừa thiêng liêng, vừa trần tục ; vừa minh triết lại
vừa "bất khả tri" (27). Và phải chăng, chính vì
bối cảnh tư tưởng triết học đó - một bối cảnh tư tưởng mà
con người phải và chỉ có thể phục tùng và
để cho đấng quyền năng vô hạn ẩn hiện đâu đó trong
cõi hư không vô biên ngự trị - mà một
thế giới quan mới, và chưa từng có trong hệ thống tư
tưởng triết học cỗ truyền xuất hiện..., đó là thế giới
quan Phật giáo ?
Vậy, những "cái nhìn cơ bản" của thế giới quan Phật
giáo và sự khác biệt của nó đối với "thế
giới quan Veda" như thế nào ?
Như đã đề cập, thế giới quan Phật giáo (thời Nguyên
thủy) là những gì được Đức Phật nói rõ
trong giáo thuyết về 4 thánh đế và 12 nhân
duyên (28). Về mặt triết lý, 4 thánh đế và
12 nhân duyên luôn luôn quan hệ biện chứng với
nhau. Và nếu nói một cách cụ thể, 12 nhân
duyên chính là Tập đế (Samudaya-àriyasacca)
và hệ quả tất yếu của Tập đế là Khỗ đế
(Dukkha-àriyasacca). Bốn thánh đế và 12 nhân
duyên được ví như dấu chân voi (29), nó bao
trùm và dung chứa tất cả dấu chân của muôn
loài sinh thú. Do đó, các giáo
lý này bao hàm cả tri thức luận, đạo đức luận, bản
thể luận v.v..., nếu được triển khai.
Ở đây chỉ bàn về thế giới quan trong quan điểm của Phật
giáo. Trước hết, chúng ta thấy rằng trong nội dung của 12
nhân duyên, các chi phần danh - sắc
(nàma-rùpa), sáu xứ (chabbithàna) và
xúc (phassa) chính là điểm nối kết, nương tựa lẫn
nhau để tạo nên dòng vận hành bất tuyệt của con
người và vũ trụ hay thế giới thực tại khách quan,
mà thuật ngữ gọi là các uẩn (skandha), xứ
(ayatana) và giới (dhàtu). Uẩn là tỗ hợp của
các thành tố, bao gổm 5 uẩn, đó là sắc (vật
lý), thọ, tưởng, hành và thức (tâm
lý). Xứ là các điểm tựa, nơi chốn ; để qua
đó, tri giác hình thành, bao gổm 6 nội xứ
(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức) cộng với 6
ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), còn
gọi là 6 trần. Giới là cõi sống, là sinh
địa của chúng sinh, bao gổm : cõi Dục, cõi Sắc
và Vô sắc. Ở đây, trong phạm vi nhân sinh, chỉ
nói đến cõi Dục, tức thế giới hiện hành mà
con người đang sinh sống ; bao gổm 6 căn, 6 trần, 6 thức, cộng chung
thành 18 giới. Như thế, thế giới quan, nhân sinh quan
và vũ trụ quan Phật giáo được hình thành
ngay trên cơ sở Duyên khởi (xúc - giao tiếp, tiếp
xúc, kết hợp...) của 18 giới, với sự điều động của cả danh
(tâm lý) và sắc (vật lý). Và do
đó, những gì được xây dựng trên/trong cơ sở
này đều phải chịu sự chi phối của khỗ, vô thường, vô
ngã. Ở đây, các quan niệm về thần linh, Thượng đế,
thần bí, huyền học v.v... đều được gác sang một
bên. Và tất nhiên, mọi giải kiến nào về thế
giới quan, nếu không dựa trên cơ sở này, đều
không phải là Phật giáo, cho dầu có mệnh
danh là Phật giáo.
Như thế, từ đây chúng ta có thể so sánh sự
khác biệt giữa thế giới quan Veda và thế giới quan Phật
giáo qua một bảng đối chiếu như sau :
Bảng 1
|
Thế Giới Quan Vệ Đà
|
Thế Giới Quan Phật Giáo
|
|
1- Thời Gian Lịch sử
|
- Cỗ đại
- Rig-Veda (từ 1500-1000 tr.TL)
- Bràhmana (từ 1000-800 tr.TL)
- Upanishad (từ 800-600 tr.TL)
|
- Thời Phật giáo Nguyên thủy
Từ thời Đức Phật (563-463 tr. TL) đến sau khi Ngài diệt độ khoảng 100 năm (từ 563-363 tr.TL)
|
|
2-Quan Niệm
|
- Nhất thể (Brahman)
- Đa thần (Deva) (I)
|
-Duyên khởi của 4 thánh đế và 12 nhân duyên
|
|
3- Thế Giới
|
-Thiên giới (Div)
-Không giới (Antariksa)
-Địa giới (Prthivi)
|
-Dục giới (Kàmadhàtu)
-Sắc giới (Rùpadhàtu)
-Vô sắc giới (Arùpadhàtu)
|
|
4- Kinh Điển
|
- Veda (4 bộ)
- Rig - V.
- Sama - V.
- Yajur - V.
- Atharva - V.
|
-Nikàya (4 bộ)
-Dhiga-N.
-Majjhima-N.
-Anguttara-N.
-Samyutta-N.
|
~oOo~
Trang chính
Chương 1
- Tổng Luận
Chương 2
- Thế Giới Quan Phật Giáo
Chương 3
- Sự Ra Đời Của Tánh Không Luận
Chương 4
- Học Thuyết Phân Kỳ Và Hệ Thống Phân Giáo
Chương 5
- Triết Học Tánh Không
Chương 6
- Đại Cương Triết Học Trung Quán
Chương 7
- Bản dịch Việt ngữ Trung Luận
Chương 8
- Chú Giải Các Thuật Ngữ Trong Trung Luận
~oOo~
|