|
|
|
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
|
|
|
|
Trên cơ sở này, chúng ta thấy được bối cảnh phân kỳ tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ khá rõ ràng. Tuy nhiên, giữa thời kỳ thứ hai (trung kỳ) và thứ ba (hậu kỳ) còn có những mốc lịch sử tư tưởng quan trọng, do đó Stcherbatsky tiếp tục phân chia thêm một bản phân kỳ dành cho sự phát triển của tư tưởng Đại thừa Phật giáo.
Thế Kỷ I - Hưng Khởi Của
Đại Thừa
|
Thế Kỷ
II
Dòng triết học : Tánh Không,
Duyên khởi luận do Long Thọ và Đề Bà (còn gọi Thánh Thiên)
thành lập |
Thế Kỷ III & IV
Một khoảng trống |
Thế kỷ
V
Dòng triết học : Duy thức
luận (Vijnànavàda) của Vô Trước và Thế Thân |
Thế Kỷ VI
Sự phân hóa giữa phái
Duy thức và tánh Không - An Huệ (Sthiramati và Trần Na (Dingnàga)
đại diện cho phái Duy thức; Phật Hộ (Buddhapalita) và Thanh
Biện (Bhàvaviveka) đại diện cho phái Khôngluận |
Thế Kỷ
VII
Hệ thống Trung quán do Nguyệt
Xứng (Candrakirti) xiển dương và hoàn thành. |
Bảng phân kỳ (số 6) trên, theo học giả J.Takakusu, trong “The Essentials of Buddhism Philosophy” (50), khoảng trống của thế kỷ thứ III và thứ IV, có thể điền vào bằng Kiên Huệ (Saramati) và Di Lạc (Maitreya). Di Lạc và thầy trực tiếp hoặc gián tiếp dạy Duy thức cho Vô Trước. Tuy nhiên, có lẽ do Di Lạc được truyền tụng bởi quá nhiều huyền thoại - có thuyết nói Ngài là vị Bổ Tát trên cung trời Đâu Suất, xuống trần gian dạy Duy thức cho Vô Trước... - nên về mặt lịch sử, Stcherbatsky đã không đề cập đến.
Từ các hệ thống phân kỳ lịch sử trên, Giáo sư Takakusu đề xuất thêm một bảng phân kỳ mới, khác hơn, bao gổm 4 thời kỳ : Thực tại luận, Hư vô luận, Quan niệm luận và Phủ định luận.
1- Thực tại luận |
Trong bảng (số 7) phân kỳ này, mục đích của Giáo sư Takakusu là đưa Không luận của Harivarman (51) lên trước Long Thọ (xem bảng số 8 tiếp sau).
Trên đây là một số nét cơ
bản của sự phân kỳ trong tiến trình phát triển của lịch
sử-tư tưởng Phật giáo?n Độ. Như thế, trong suốt 1.500
năm này là thời kỳ phát triển hưng thịnh của Phật giáo?n
Độ. Và từ đó, kéo dài cho đến thế kỷ thứ XI TL thì
Phật giáo?n Độ rơi vào suy vong. Có điều, chúng ta nên nhớ
rằng, trước khi Phật giáo Ấn Độ đi vào thời kỳ suy vong,
thì mọi sự phát triển của nó đã được truyền sang các
nước (theo hai hướng Nam truyền và Bắc truyền) khác. Và
tất nhiên, trong sự truyền thừa đó, có cả những phát triển
khác biệt mà nó được nảy sinh từ?n Độ. Trong trường
hợp này, có thể nói tại Trung Hoa là nơi có những bước
phát triển mới làm cho nền Phật học trở nên hoàn thiện,
đặc biệt là quá trình
hệ thống hóa các tư tưởng
dị đổng được du nhập từ Phật giáo ẤnĐộ. Điều này
được trình bày cụ thể trong hệ thống Phán giáo của Phật học Trung Hoa.
II.- Hệ Thống Phân Giáo Phật Học Trung Hoa
Phán giáo cũng có nội dung
và tính chất như phân kỳ, nhưng phần lớn nó được tập
trung vào hệ thống giáo lý, kinh điển. Nếu, nói một cách
chính xác thì lịch sử Phán giáo bắt nguổn từ?n Độ vào
thời đại của ngài Giới Hiền và Trí Quang, hai vị Luận
sư này đều phân chia giáo lý Phật giáo theo ba thời giáo
khác nh?au, như được tìm thấy trong Pháp tướng tông (của
ngài Giới Hiền) và Tam luận tông (của ngài Trí Quang) (52).
Tuy nhiên, khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, thì phần lớn
đều được hình thành qua hình thức tông phái, và trên cơ
sở của môỡi tông phái mà hệ thống Phán giáo được tỗ
chức
khác nhau, theo hình thức khởi
nguyên từ Ấn Độ.
Hệ thống Phán giáo Phật học Trung Hoa, như đã đề cập, bắt đầu từ thời đại Nam Bắc triều (53) (cũng gọi là thời đại Lục triều), các nhà Phật học đã tỗ chức hệ thống Phán giáo mà đời sau gọi là “Nam tam - Bắc thất” (ba hệ thống Phán giáo ở phương Nam và bảy hệ ở phương Bắc).
Bảng 8: Hệ Truyền Thừa Của Long Thọ ở Ấn Độ và Trung Hoa
Đạo Dung
|
- Ba hệ Thống Phán Giáo Giang Nam
a)- Hệ thống một (do Pháp sư Hỗ Khưu Sơn Cập lập thành - có ba pháp luân :
b)- Hệ thống hai (do Pháp sư Tăng Ai lập thành) - có ba pháp luân :
1. Đốn giáo : (như hệ thống một)
2. Tiệm giáo :Hữu tướng giáo : (như hệ thống một)3. Bất định giáo : (như hệ thống một)
Vô tướng giáo : (12 năm sau Phương Đẳng và Bát Nhã)
Đổng qui giáo : (thời Pháp Hoa)
Thường trụ giáo : (thời Niết Bàn)
c)- Hệ thống ba (do Tăng Nhu, Huệ Thứ, Huệ Quán lập thành) - có ba pháp luân :
1. Đốn giáo: (như hệ thống một)
2. Tiệm giáo:Hữu tướng giáo : (như hệ thống một)3. Bất định giáo : (như hệ thống một)
Vô tướng giáo : (Bát Nhã)
Ức dương giáo : (Phương Đẳng)
Đổng qui giáo : (như hệ thống một)
Thường trụ giáo : (như hệ thống một)
B/- Bẩy hệ Thống Phán Giáo Giang Bắc
a)- Hệ thống một (Hoặc Sư lập) - có năm pháp luân :
1- Nhân thiên giáo : (Đề-vị-bà-lợi)
2- Vô tướng giáo : (Tịnh độ)
3- Đốn giáo : (Hoa Nghiêm)
4- Tiệm giáo : (Phương Đẳng)
5- Bất định giáo : (như trước)
b)- Hệ thống hai (Bổ Đề Lưu Chi lập) - có hai pháp luân :
1- Tiên giáo bán tự : (12 năm trước - Tiểu thừa giáo)
2- Hậu giáo mãn tự : (12 năm sau - Đại thừa giáo)
Bán tự và mãn tự - dụ cho
trẻ con khi mới học thì trước hết dạy nửa chữ (tiên
giáo bán tự), rổi sau đó mới dạy tiếp nguyên
chữ (hậu giáo mãn tự).
c)- Hệ thống ba (Quang Thống lập)
Hệ thống này do ngài Giác Hiền, Huệ Quang đề xuất, có 4 tông :
1- Nhân duyên tông : (thuộc Tiểu thừa - Hữu bộ, chủ thuyết Tứ nhân lục duyên)
2- Giả danh tông : (thuộc Thành Thật tông, chủ thuyết Thành Thật luận : giảng về Tam giả - Nhân thành giả, Tương tục giả, Tương đãi giả)
3- Cuống tướng tông : (học thuyết Tam luận - Nhất thiết pháp không - Tính Không luận)
4- Thường tông : (giáo lý Hoa Nghiêm và Niết Bàn)
d)- Hệ thống bốn (Hoặc Sư lập) - có năm tông :
1- Nhân duyên tông : (A Tỳ Đàm)
2- Giả danh tông : (Thành Thật)
3- Cuống tướng tông : (Tam luận)
4- Thường trụ tông : (Niết Bàn)
5- Pháp giới tông : (Hoa Nghiêm)
e)- Hệ thống năm (Pháp Sư ở Kỳ Xà) - có sáu tông :
1- Nhân duyên tông : (A Tỳ Đàm)
2- Giả danh tông : (Thành Thật)
3- Cuống tướng tông : (Tam luận)
4- Thường trụ tông : (Hoa Nghiêm - Niết Bàn)
5- Chân tông : (Pháp Hoa)
6- Viên tông : (Đại Tập)
f)- Hệ thống sáu (Hoặc Sư lập) - có hai tông :
1- Hữu tướng Đại thừa
2- Vô tướng Đại thừa
g)- Hệ thống bảy (Hoặc Sư lập) - có một tông :
Nhất âm giáo : (Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, chúng sanh tùy theo đó mà hiểu biết về giáo pháp khác nhau).
Trên đây là phần trình bày đại cương về “Nam tam - Bắc thất” - sự khái lược hóa về các hệ thống phán giáo Phật học Trung Hoa.
C/- Hệ Thống Phán Giáo Của Các Tông Phái Đại thừa
Khi các tông phái Đại thừa Phật giáo hình thành tại Trung Hoa, thì môỡi tông phái lại tỗ chức hệ thống phán giáo đặc thù theo tư tưởng của từng tông phái. Theo truyền thống lịch sử Phật giáo Trung Hoa, các tông phái chính có hệ thống phán giáo được thành lập như sau
1- Pháp Tướng Tông
Tông phái này y cứ trên cơ sở của kinh Giải Thâm Mật rổi đem giáo pháp của Phật chia làm ba pháp luân (ba lần chuyển pháp luân của Phật).
a)- Pháp luân I : Phật nói về Hữu (Hữu giáo)
b)- Pháp luân II : Phật nói về Vô (Không giáo)
c)- Pháp luân III : Phật nói về Trung đạo (Trung giáo)
- Hữu giáo là giáo lý thời Nguyên thủy và Bộ phái
- Không giáo là giáo lý tiền Đại thừa và Đại thừa
- Trung giáo là giáo lý Đại thừa và hậu Đại thừa
* Pháp luân I : Giáo lý cơ bản là 4 thánh đế và 12 nhân duyên
* Pháp luân II : Giáo lý cơ bản là “Nhất thiết pháp không”
* Pháp luân III : Giáo lý cơ bản là “Trung đạo đế”
Hai pháp luân đầu, Phật nói về pháp phương tiện và bất liễu nghĩa (khế lý, khế cơ). Pháp luân thứ ba, Phật nói về pháp liễu nghĩa - chân thật tối thượng - Chủ đề cơ bản là Trung đạo : - 3 tự tính và 3 vô tính (tam tính và tam vô tính).
Về kinh điển, người đời sau đối chiếu như vầy :
* Pháp luân I : Gồm 4 bộ A Hàm Ạ 4 bộ Nikàya
* Pháp luân II : Gồm kinh Bát Nhã (Không tông)
* Pháp luân III : Gồm kinh Giải Thâm Mật, Hoa Nghiêm...
2- Tam Luận Tông
Tông phái này phân chia giáo pháp của Phật làm hai tạng và ba pháp luân :
Thinh Văn tạng
Bổ Tát tạng
Pháp luân gốc
Pháp luân ngọn
Pháp luân ngọn về gốc
- Thinh Văn tạng : gổm các kinh A Hàm và Nikàya.
- Bổ Tát tạng : gổm các kinh Đại thừa.
* Pháp luân gốc : Phật nói kinh Hoa Nghiêm
* Pháp luân ngọn : Phật nói kinh A Hàm đến Phương Đẳng
* Pháp luân ngọn về gốc : Phật nói kinh Pháp Hoa
Hệ thống phán giáo này do Cát Tạng đề xuất (xem bảng số 8 và mục chú số 62)
3- Thiên Thai Tông
Tông này chia giáo pháp cüa Phật thành Ngũ Thời, Bát giáo.
|
|
- Hoa Nghiêm
- A Hàm - Phương Đẳng (Duy Ma, Lăng Già...) - Bát Nhã - Pháp Hoa, Niết Bàn |
Năm thời tương ưng với năm
vị (của kinh Niết Bàn)
|
|
- Sữa tươi (ngưu nhũ)
- Váng sữa (lạc) - Váng bơ (sinh tô) - Bơ kết (thục tô) - Bơ lỏng (đề hổ) |
- Đề hổ là tối thượng trong 5 vị, và kinh Pháp Hoa, Niết Bàn được ví như đề hổ - tối thượng trong các kinh.
Tám Giáo (Bát Giáo)
| 4 hóa nghi (Hóa nghi tứ giáo)
[4 phương pháp giáo hóa]
1- Đốn
|
4 hóa pháp (Hóa pháp 4 giáo)
[4 nội dung giáo lý cơ bản]
1 - Tạng giáo
|
Tứ giáo
- Tạng giáo : hệ thống kinh điển A Hàm và Nikàya
- Thông giáo : hệ thống kinh điển xuyên thông cả Tam thừa
- Biệt giáo : giáo lý đặc biệt dành cho đối tượng đặc biệt, như hàng Bổ Tát, Lục độ, Nhị đế v.v...
- Viên giáo : giáo lý viên dung - nhất thừa, chỉ cho kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Pháp Hoa
Tứ nghi
- Đốn giáo : giáo lý đốn ngộ, dành cho hàng trí giả - Đại thừa
- Tiệm giáo : giáo lý được giảng tùy theo trình độ, căn cơ (các kinh A Hàm, Phương Đẳng)
- Bí mật : giáo lý đặc thù dành cho đối tượng đặc thù (không phải ai cũng được nghe và hiểu được)
- Bất định : cùng một giáo lý, cùng một pháp hội nhưng chôỡ này là đốn giáo, chôỡ kia là tiệm giáo - tùy theo trình độ mà nói. đây, có một vấn đề. Tương truyền, ngũ thời bát giáo là do ngài Trí Khải (54), đệ tử của Huệ Tư, sáng lập. Nhưng học giả Sekiguchi Shindai trong bài viết “Khởi nguyên ngũ thời bát giáo” (Goji hakkyo kyohanron no kigen) (xem Taisho daigaku kiyo, tr.1-15 (1975) cho rằng chính Trạm Nhiên (711-782) là người hệ thống hóa phán giáo này.
4- Hoa Nghiêm Tông
Tông phái này do sư Đỗ Thuận, Trí Nghiễm và Pháp Tạng thành lập. Giáo pháp được chia thành 5 giáo, 10 tông.
* Năm giáo
1- Tiểu thừa giáo : giáo lý
cho hàng Thanh Văn, như A Hàm, A Tỳ Đàm luận, Thành Thật luận;
2- Đại thừa sơ giáo : giáo
lý cho hàng Đại thừa sơ cấp, như Trung Quán luận, Du Già
Sư Địa luận... ;
3- Đại thừa chung giáo : giáo
lý cho hàng Đại thừa cao cấp, như kinh Lăng Già, Thắng Man...
;
4- Đại thừa đốn giáo :
giáo lý cho hàng Đại thừa ưu tú, như Thiền tông... ;
5- Nhất thừa viên giáo : giáo
lý viên dung, tối thượng, như kinh Hoa Nghiêm..., Nhất thừa
viên giáo có hai loại :
a)- Nhất thừa đổng giáo : tương ứng với Tam thừa (kinh Pháp Hoa)
b)- Nhất thừa biệt giáo :
khác với Tam thừa (kinh Hoa Nghiêm)
|
|
|
* Mười tông (10 học thuyết cơ bản của Phật giáo Bộ phái và Đại thừa)
Sáu học thuyết của Tiểu thừa :
1- Tông Ngã pháp đều có : thuộc giáo lý của Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền vị bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Kê dân bộ trong thời kỳ Phật giáo Bộ phái.
2- Tông Ngã không pháp có : thuộc giáo lý của Nhất thiết hữu bộ, Tuyết sơn bộ,?n quang bộ, Kinh lượng bộ.
3- Tông Pháp không khứ lai : thuộc quan niệm “Hiện tại hữu thể, quá vị vô thể” của Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ, Đại chúng bộ, Đa văn bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ.
4- Tông Hiện thông giả thật : thuộc quan niệm “Chân giả tịnh hữu” của Thuyết giả bộ.
5- Tông Tục vọng chân thật : Quan niệm của thuyết Xuất thế bộ.
6- Tông Chư pháp giả danh : Quan niệm “Tam thế chư pháp giả danh vô thể” của Nhất thuyết bộ.
Bốn học thuyết của Đại thừa
7- Tông “Nhất thiết pháp không” : thuộc Đại thừa thỉ giáo.
8- Tông “Chư pháp thực tướng” : thuộc Đại thừa chung giáo.
9- Tông “Tướng và Tưởng đều không” : thuộc Đại thừa đốn giáo.
10- Tông “Như thị - viên mãn” : thuộc Nhất thừa viên giáo (55).
Trên đây là các tông phái có hệ thống phán giáo cụ thể. Còn Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông (Chân ngôn tông) thì hệ thống phán giáo không cụ thể và cũng khá đa diện. Tuy nhiên, với ba tông này, chủ yếu là đi vào tu tập thực tiễn. Do đó, nếu lập phán giáo thì phải lập theo một thể cách đặc thù của nó.
Riêng về phần phán giáo như vừa trình bày trên đây, chúng ta thấy lộ rõ một điều ở các hệ thống phán giáo, đó là sự tương quan thống thiết giữa nhận thức của con người và chân lý thực tại. Bởi lẽ, nhận thức của con người thì bất khả thuyết - có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu nhận thức khác nhau. ? đây, sẽ không bao giờ có bất kỳ một khuôn mẫu tư duy nào có thể dùng cho mọi người; cũng như, tất cả mọi người đều mang giày, nhưng không thể có một đôi giày nào khả dĩ được dùng cho tất cả mọi người. Vả lại, chân lý thực tại cũng chỉ có Một, Đông phương hay Tây phương, đều chỉ có Một và chỉ Một mà thôi. Vì lẽ đó, vấn đề được đặt ra ở đây là : chân lý luôn luôn, lúc nào, và ở đâu, cũng bình đẳng trước mọi người; và, làm thế nào để mọi người có thể trực nhận được chân lý? Đây là lý do tại sao Phật tử Trung Hoa đề xuất và tỗ chức các hệ thống phán giáo. Nó xuất hiện như là sự nối kết các nhịp cầu phương tiện để giúp người sang sông. Từ đó, ba thừa phân đốn, tiệm, quyền, thật tất cả đều viên dung. Đây là phương tiện thiện xảo để môỡi người với căn tánh và trình độ khác nhau đều có thể tu tập Phật giáo. Có thể tóm tắt ý nghĩa trên qua phát biểu của Long Thọ như sau : “Nếu không nương tục đế, thì không thể đạt đến chân lý. Nếu không đạt đến chân lý, thì không thể hiểu được Phật pháp” (56).
Trang chính
Chương 1
- Tổng Luận
Chương 2
- Thế Giới Quan Phật Giáo
Chương 3
- Sự Ra Đời Của Tánh Không Luận
Chương 4
- Học Thuyết Phân Kỳ Và Hệ Thống Phân Giáo
Chương 5
- Triết Học Tánh Không
Chương 6
- Đại Cương Triết Học Trung Quán
Chương 7
- Bản dịch Việt ngữ Trung Luận
Chương 8
- Chú Giải Các Thuật Ngữ Trong Trung Luận