|
|
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VÀ TRIẾT HỌC TÁNH KHÔNG
Thích Tâm Thiện
~oOo~
Chương VI
Ðại Cương
Triết Học Trung Quán
I.- Giới Thiệu
Về Tác Phẩm Và Tác Giả
Theo nhận định của T.R.Murti,
"Trung Quán luận (Màdhyamika) là một luận giải
cách tân của Phật giáo. Nó đào
sâu vào Phật giáo bằng cách phân
tích trọn vẹn những vấn đề tinh tế trong giáo nghĩa.
Ðó là một sự cố gắng bền bỉ để tỗng hợp các
kinh luận Phật giáo thông qua cái nhìn của
hai chân lý : chân đế và tục đế" (73).
Chúng ta biết rằng, Trung
Quán luận là một trong ba bộ luận nỗi tiếng của Long Thọ.
Song, về vai trò lịch sử, nó có một tầm vóc
vô cùng vĩ đại trong tiến trình phát triển
lịch sử-tư tưởng của đạo Phật, nhất là trong một bối cảnh phức
tạp của các hệ tư tưởng tại Ấn Ðộ lúc bấy giờ. Do
đó, Trung Quán luận rất được quan tâm bởi
các học giả Ðông, Tây; và theo
đánh giá của P.T.Raju, trong "Idealistic Thought of
India", thì tác giả của tác phẩm này
là "một nhà biện chứng độc nhất vô nhị trên
thế giới" (74).
Nội dung của Trung Quán luận gổm có 4 quyển,
chia thành 27 phẩm với tất cả 446 bài tụng. Môỵi bài tụng có 4 câu năm chữ, tỗng
cộng gổm 1.784 câu, 8.920 chữ. Tác phẩm nguyên văn bằng tiếng Sanskrit, do La
Thập dịch sang Hán văn. Bên cạnh bản dịch, còn có các bản chú giải của Vô Trước,
Thanh Mục, Cát Tạng...
Về tác giả, Nagarjuna, người
thuộc chủng tộc Naga (rổng) ở miền Nam Ấn, ra đời khoảng thế kỷ thứ III
T.L, trong một gia đình theo đạo Bà La Môn.
Ngài được sinh ra dưới gốc cây Arjuna, nên được đặt
tên Nagarjuna - Long Thọ, Long Thắng, Long Mãnh. Thuở
thiếu thời, Long Thọ là người thông minh, học rộng,
làu thông kinh điển Bà La Môn và học
được huyền thuật. Truyền thuyết kể rằng, một hôm, Long Thọ
cùng bạn bè rủ nhau dùng phép tàng
hình để vào cung trêu chọc các cung nữ. Vua
biết được, ra lệnh chém đầu ba người bạn, riêng Long Thọ
được thoát thân. Do ăn năn sám hối, Ngài một
mình đến trước tháp Phật phát tâm xuất gia
thọ giới. Từ đó, Ngài bắt đầu nghiên cứu Tam tạng,
dầu có thông hiểu nhưng vẫn không thỏa mãn.
Một hôm, do tâm khinh mạn sinh khởi, Ngài tự chế ra
giới luật, ăn mặc kiểu mới và ở riêng trong căn
phòng thủy tinh. Nhân duyên hội ngộ, Bổ Tát
Ðại Long thương xót đến dẫn Ngài vào Long cung
rổi truyền trao kinh pháp Ðại thừa. Từ đó,
Ngài nôỵ lực truyền bá chánh pháp,
cho đến khi về già. Một trong những đệ tử xuất sắc của Long Thọ
là Ðề Bà... (75).
Về mặt tư tưởng, nói đến
Long Thọ là phải nói đến Bổ Tát Mã Minh,
tác giả của "Ðại thừa khởi tín luận". Thông qua
tác phẩm này mà tư tưởng Ðại thừa của
Mã Minh đã gây sự chú ý cho
các bậc thức giả đương thời. Và về sau, chính Long
Thọ là người làm cho hệ tư tưởng Ðại thừa trở
nên hoàn thiện. Tất nhiên, ngoài Long Thọ
cũng còn có những nhà Ðại thừa khác,
như Harivarman. Tuy nhiên, với trí tuệ xuất sắc và
biệt tài về nghị biện, mà Long Thọ được xem như là
(một trong những) triết gia đầu tiên trong cuộc cách
tân lịch sử-tư tưởng Phật giáo.
II.- Luận Ðề
Triết Học Cơ Bản Trong Trung Quán Luận
Phần trình bày đại cương về các luận đề triết
học cơ bản trong Trung Quán luận này được dựa vào nguyên bản Trung Quán luận do
ngài La Thập dịch trong Ðại tạng kinh, và phần giải thích được dựa vào nhiều bản
sớ giải của các Luận sư Tăng Duệ (No.1564 [Cf.Nos.1565-1567] - lời tựa viết cho
Trung Quán luận), Thanh Mục (No.1564 [Cf.Nos.1565-1567] - phần sớ giải) và Vô
Trước (No.1565 [Cf.Nos.1564, 1566, 1567] - Thuận Trung luận nghĩa nhập Ðại Bát
Nhã Ba la mật kinh) - xem Ðại Chính tân tu, Ðại tạng kinh, tập 30.
A/- Biến Chứng Phủ định
(Dialectical Negation)
Toàn bộ triết lý
Trung Quán hoàn toàn nằm ngay nơi tiền đề độc nhất
vô nhị của nó, đó là "Nhất Thiết Pháp
không - SARVADHARMÀSUNYATA - Tất Cả Pháp đều
Là Không". Ðây là một tiền đề vĩ đại
làm đảo lộn tất cả cơ cấu trật tự trong đời sống tri thức của
con người. Vì lẽ, nếu không thừa nhận nó,
thì mãi mãi con người không thể đạt đến
chân lý, nghĩa là chỉ chấp nhận và bằng
lòng với thế giới sự vật hiện tượng sinh diệt liên hổi
này ; và như thế, thì giá trị của
chân lý mặc nhiên bị phủ nhận ngay trong đời sống
của con người. Và, đời sống của con người, nếu không được
soi sáng bởi chân lý, hay được tổn tại trong
chân lý, thì tất nhiên, đời sống đó sẽ
không có bất kỳ một ý nghĩa và giá
trị nào.
Ngược lại, nếu thừa nhận nó như là một chân lý
phỗ biến, thì xem như là phủ nhận tất cả hiện thực của con người và thế giới
thực tại khách quan.
Nhưng, như trong thực tế, con người đã không thể
lẩn trốn trước sự hiện hữu của thế giới thực tại với muôn ngàn sự vật hiện
tượng, sai biệt đa thù đang hiện bày lổ lộ trước mắt, hà huống là có thể chối từ
sự hiện hữu của con người chính nó và các đối tượng hiện thực của nó - tức là
thế giới thực tại.
Và nếu như thế, thì
tiền đề Trung Quán này quả thực là chứa đầy
mâu thuẫn. Và, trong tri thức thường tình, những
cái mâu thuẫn thì đều không hợp ; và
những cái không hợp lý, thì không thể
tổn tại v.v... Nhưng tại sao tiền đề của Trung Quán vẫn tổn tại
như là chân lý hiển nhiên ? Ðặt vấn đề
như thế là để khởi sự đi vào nghiên cứu triết
lý Trung Quán.
1- Ý nghĩa phủ định của
Trung Quán
Như vừa trình bày,
"Nhất thiết pháp không" là một mệnh đề -
phát biểu phủ định, nó là một sự phủ định tất cả,
mà trước hết là phủ định mọi đối tượng được xem như
là sự thể hiện thực (actual dharma), rổi sau đó,
là phủ định chủ thể (subject) của đối tượng bị phủ định (object)
; thế có nghĩa là nó, không những phủ định
mọi sự thể hiện hữu mà còn phủ định luôn cả
chính nó. Và, khi mà mọi giá trị đều
bị phủ định, như vai trò hiện hữu của chủ thể và đối
tượng, thì tiền đề của Trung Quán cũng chẳng có
giá trị gì hết, có cũng như không. Và
khi mà một tiền đề đã được xem là không
có tác dụng, thì sự thiết lập của nó cho
dù có hợp lý, cũng không có
giá trị gì trong sự phủ nhận thế giới thực tại hiện hữu ;
và cũng không có bất kỳ một sự liên hệ
nào đối với thế giới thực tại hiện hữu. Do đó, ý
nghĩa phủ định của Trung Quán, trước hết là "không
phủ định gì cả". Vì, mệnh đề phát biểu của
nó là "Nhất thiết pháp không" ; mà,
khi "tất cả đều là không" thì lấy cái
gì để phủ định cái gì ? Chúng ta thấy rằng,
trên thực tế, trước hết phải có một sự thể nào
đó, rổi sau mới có thể khẳng định hay phủ định.
Còn, nếu đã không có gì hết,
thì lấy cái gì mà phủ định, và phủ
định cái gì. Như thế, ở đây không thể
dùng ý nghĩa phủ định theo quan điểm thông thường
của con người để khảo sát tính cách phủ định của
Trung Quán.
2- Cơ sở thiết lập mệnh đề
phủ định của Trung Quán
Thông thường, khi phát
biểu một mệnh đề hoặc là khẳng định, hoặc là phủ định,
thì trước hết phải tuân thủ trật tự của kết cấu ngữ
pháp ; nghĩa là, trong một câu phát biểu,
phải có đủ chủ từ (subject), động từ (verb) và túc
từ (object). Và trong nguyên lý tương quan của
ngôn ngữ, thì một mệnh đề phát biểu phải mang
ý nghĩa hoặc đúng, hoặc sai ; và cái
đúng phủ định cái sai. Do đó, một phát biểu
phủ định luôn luôn phải hội đủ các yếu tố : a)- Chủ
thể phủ định, động từ phủ định, và đối tượng bị phủ định. b)-
Chủ thể nhận định sai, động từ nhận định sai, và đối tượng bị
nhận định sai. Trên cơ sở này, bên đúng (a)
có thẩm quyền phủ định bên sai (b). Nhưng, mệnh đề
phát biểu phủ định của Trung Quán là "Nhất thiết
pháp không", như thế nó đã hoán vị từ
phủ định sang khẳng định - khẳng định rằng "Tất cả đều là
không" (76). Và rằng, khi mọi sự được xem là
không, có nghĩa là mọi đối lập giữa đúng
và sai, giữa có và không v.v... đều bị
phá hủy ; và một lần nữa, nó tự phá hủy
nó ngay trong kết cấu văn pháp của chính
nó. Như thế, đối với Trung Quán, mọi lý luận đều
hóa ra một thứ trò chơi - chơi chữ. Và với
nó, lý luận của trần gian bôỵng trở thành
mộng mị, vì mọi luận lý đều đi vào ngõ cụt,
nói có cũng không được, nói không cũng
không được, nói vừa có vừa không cũng
không được, và nói vừa không có vừa
không không cũng không được. Hễ đụng vào khả
thể nào là nó đập tan ngay khả thể, cho đến khả
thể của ngôn ngữ cũng bất lực. Như thế tại sao sứ mệnh của Trung
Quán được gọi là "phá tà hiển chánh"
- đánh thức giấc mộng cuổng si của những kẻ mê lầm ?
Ðiều này được Thanh Mục giải thích rõ ở phần
sau.
3- Yếu tính tương quan trong
phát biểu của một mệnh đề
Mục tiêu lý tưởng của
logic tư duy, thông thường là sự cần phải đạt đến một tiến
trình biện chứng giữa cái biểu đạt và cái
được biểu đạt (77), hay nói khác đi, đó là
sự tương ứng giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Do
đó, sự thể biểu tượng, luôn luôn là biểu
tượng cho một cái gì khác nó, chớ
không thể biểu tượng về chính nó. Cũng như hoa sen,
tự thân nó không cần phải biểu tượng cho nó
nữa, vì chính nó đã là hoa sen rổi ;
và mọi thuộc tính của nó luôn luôn
được trưng bày bởi trong chính sự hiện diện của
nó. Nhưng khi người ta dùng hoa sen để biểu trưng cho
những đặc tính cao thượng và bất nhiễm, tất nhiên
cái đặc tính cao thượng và bất nhiễm đó
không phải là của hoa sen. Tương tự như vậy, chim bổ
câu được dùng để biểu tượng cho hòa bình,
nhưng hòa bình hẳn không phải là chim bổ
câu. Từ đó, cho thấy rằng mối tương quan giữa biểu tượng
và thực tại, dầu có tương ưng, nhưng không phải
là nhất thể. Vì lẽ, giữa thực tại và cái
biểu tượng cho thực tại thì hoàn toàn khác
nhau. Như vậy, khi nói đến yếu tính tương quan trong
phát biểu của một mệnh đề là nói đến tiến
trình tương ứng của một nhận thức, mà trong đó,
chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức cũng xuất hiện
trên nguyên lý hoặc là đổng thể, hoặc
là sai biệt. Nghĩa là, hoặc chủ thể nhận thức và
đối tượng được nhận thức là một, hoặc chủ thể và đối
tượng là hai. Trong trường hợp nếu là một, thì
tác giả và tác nghiệp là đổng nhất. Tỉ dụ,
người thợ gốm (tác giả) và đổ gốm do ông làm
ra (tác nghiệp), ở đây sao gọi là một được ?
Vì, nếu là một thì hóa ra, người thợ gốm
và đổ gốm là đổng thể ?
Một dẫn dụ khác, trong
trường hợp nếu là hai, như tỉ dụ củi và lửa của Thanh
Mục, rằng nếu chủ thể và đối tượng là hai đơn thể biệt
lập, như sự biệt lập của củi và lửa, thì đâu cần
có củi mới có lửa ? Mà trái lại, lúc
nào và ở đâu lửa tự nó vẫn có,
và nếu như thế, đây là một loại lửa vô dụng,
nó không có năng lực thiêu đốt cái
gì hết. Do đó, yếu tính tương quan ở đây,
theo Trung Quán có hai loại : một là dị thời, hai
là đổng thời. Trong tương quan dị thời, có 4 yếu tố: 1-
Thường (lửa - lúc nào và ở đâu cũng
có) ; 2- Vô nhân (lửa - không cần có
củi) ; 3- Vô duyên (lửa - không cần bất cứ điều kiện
nào để nó hiện hữu) ; và 4- Vô tác
dụng (lửa - không có chức năng thiêu đốt) (78).
Ngược lại, trong tương quan đổng thời, lửa chỉ có thể hiện hữu
khi củi bị đốt, sự có mặt của nó là tùy
thuộc vào củi có bị đốt hay không ; và đối
với củi, trước khi bị đốt, nó cũng chưa hẳn là củi,
vì nó có thể được trở thành một cái
gì đó khác củi, như khúc cây,
cái chân bàn, cái khuôn ảnh... Như
thế, rõ ràng hoàn toàn không
có bất kỳ một tự tính cá biệt nào có
thể được xem như là yếu tính đặc thù của củi hay
của lửa. Và do đó, củi và lửa trong cái
nhìn của Trung Quán, được xem là hiện hữu-giả lập
; tương tự như thế đối với tất cả pháp. Ở đây, cái
yếu tính của chủ thể không có, cái yếu
tính của đối tượng cũng không có, vậy lấy gì
làm yếu tính trong tương quan để phát biểu một
mệnh đề ? Ðó chính là cái tương quan
trong tác dụng-hiện hữu, một thứ tương quan mà Thanh Mục
bảo rằng, cũng chỉ là sự giả định theo tập quán suy tư
của con người mà thôi. Do đó, khi chủ thể và
đối tượng được đặt ra để phát biểu về một chân lý
nào đó (như nói : Nhất thiết pháp
không), như thế, không có nghĩa là thừa nhận
sự hiện hữu đích thực của chủ thể và đối tượng. Nhưng,
vì muốn phá hủy mọi kiến chấp sai lầm về hữu, vô,
sinh, diệt, thường, đoạn, khứ, lai v.v... mà phải giả định
đó thôi. Và trong mọi sự giả định về thực tại, như
thế này thì gọi là lửa, như thế kia thì gọi
là củi v.v... ; lửa và củi cũng chỉ là tên
gọi ảo hóa lâm thời mà thôi. Bởi lẽ, lửa
và củi trong tên gọi thì không phải là
lửa và củi trong thực tại ; chúng hoàn toàn
khác nhau. Và nếu chúng cùng được đặt
trên nguyên lý của đổng thể và dị thể,
thì gọi thế nào cũng sai cả. Còn bản chất của thực
tại, nó vốn là dòng vận hành bất tuyệt,
không đối đãi, không tên gọi và
không mâu thuẫn. Nó là vậy thôi.
4- Ðặc tính của sự phủ
định
Từ những điều dẫn trên, ta
thấy rằng, những gì được nói ra ở đây đều là
nói trong sự giả định, và những gì nằm trong sự
giả định đều là vô thực và phi hữu. Cho đến những
cái mà gọi là mê lầm, cuổng si cũng chỉ
là pháp như mộng, như huyễn. Như thế, tất cả đối tượng
nào còn nằm trong tương quan đối đãi của tri thức
thường nghiệm thì đều là giả danh. Vì khi đối diện
với chân lý, nó không hiện hữu, cũng như
cành hoa thì có thể phản chiếu trong gương soi,
nhưng tên gọi của cành hoa đó, đối diện trước gương
soi, nó không thể hiện hữu. Từ đó cho thấy rằng,
bản chất của tri thức không gì khác hơn là
nơi cất chứa của những đối tượng phù vân ảo hóa
và chính nó cũng là những gì được
cấu thành từ ảo hóa. Cho đến khi nào mọi đối tượng
giả lập này bị hủy diệt, thì bản chất của tri thức mới
thật sự hiện tiền, bấy giờ nó mới có đủ khả năng để lĩnh
hội thực tại, hay nói khác đi, chính nó
và dòng thực tại đổng nhất thể.
Như thế, đặc tính của sự phủ
định trong Trung Quán không phải là khước từ hay
phủ nhận sự hiện hữu của thế giới thực tại khách quan, vì
thế giới thì luôn luôn hiện hữu như là
chính nó ; nó cũng không cần thiết phải trở
thành đối tượng cho tri thức, là đối tượng hay
không là đối tượng, nó vẫn như thế.
Về vấn đề này, Long Thọ đưa
ra một thí dụ như sau. Trong một căn nhà đóng
kín, bên trong đó có thiên thần xuất
hiện hay không là điều chưa biết. Nhưng ở bên
ngoài, mọi người cứ bàn tán xôn xao
là có thiên thần và không có
thiên thần bên trong. Nếu một ai đó nói
là có thiên thần, thì không phải do
câu nói đó mà thiên thần bôỵng
dưng xuất hiện ; hoặc do nói không có mà
thiên thần biến mất. Dầu ở bên trong thực có hay
không có thiên thần, cuộc bàn tán
xôn xao bên ngoài là vô cùng
tận. Và trong đám đông xôn xao đó, bậc
thức giả là người im lặng, cho dầu ông thấy được sự thật ở
bên trong. Và, ông cũng không có
lý do gì để tỏ bày sự thật đó khi mà
mọi người còn đang ở bên ngoài và
cánh cửa vẫn chưa được mở ra (79).
Tóm lại, phép phủ
định biện chứng của Trung Quán là con đường dẫn đến sự
phá hủy mọi định kiến về hữu, vô, sinh, diệt...., mọi cơ
đổ giả lập, mộng mị được cất lên từ vọng thức nhằm trả lại sự
hiện hữu-như thế cho thế giới thực tại-Tính Không.
Môỵi bước chân đi của nó không hề để lại dấu
vết nào cho tư duy hữu ngã, tựa như vết chân chim
giữa hư không bao la chẳng thể nào tìm được.
Ðó là một lối biện chứng siêu việt mà hễ
nói ra thì tất cả đều tan biến, vì ngay từ cơ bản,
nó đã phóng thích cả chủ thể lẫn đối tượng,
cho đến cái ý niệm về chủ thể và đối tượng cũng bị
đẩy ra khỏi giới tuyến của luận lý. Ðối diện trước
làn sóng phủ định liên hổi của Trung Quán,
không một sự thể nào có thể dựng lập, cho đến sự
móng khởi của ý niệm cũng đành phải băng
tiêu. Ðây chính là sứ mệnh của nó,
một sứ mệnh đặc biệt được phối trí cho mọi sự nở nụ trưng
bày cái bản thể thanh nguyên vốn từ nghìn
xưa và cho đến bây giờ vẫn không sinh, không
diệt.
"Người về bóng vắng ngàn cây Bập bềnh sông nước tháng ngày có không Tiếng kinh chìm lặng giữa dòng Giật mình vẫy gọi ai trong cõi về".
B.- Khảo Sát Về Nhân
Duyên
(Trung luận, Chương I, gổm 16 bài tụng,
ÐCTT/ÐTK, No 1564, tập 30, trang 01..., phẩm Quán nhân duyên)
Theo như quan niệm của một số
các bộ phái Phật giáo, cũng như quan niệm
thông thường của chúng ta, thì mọi sự thể hiện hữu
trên đời này đều do nhân duyên sinh ra.
Ðây là một hệ luận ảnh hưởng sâu đậm tinh thần
Phật giáo Bộ phái và nghe có vẻ như
là nó luôn luôn khế hợp với chân
lý thực tại. Các pháp do nhân duyên
sinh ra, điều đó có thể tỉ dụ như cái bình
gốm vậy, nó không thể tự nhiên mà có.
Sự tựu thành của nó là do người thợ gốm
dùng đất sét nhào nặn rổi kết hợp với nhiều yếu tố
khác nhau mà tạo thành cái bình gốm.
Ở đây, theo quan điểm của một số bộ phái thì một sự
thể muốn tựu thành phải có đầy đủ nhân duyên.
Nhân là nguyên nhân chính (tự
tính) trực tiếp sinh ra quả, và duyên là sự
tác động phụ trợ từ bên ngoài (tha tính),
cộng hai thứ đó lại (tự và tha) nên gọi là
"nhân duyên". Và tất cả thế giới sự vật hiện tượng
này từ con người cho đến muông thú và cỏ
cây hoa lá đều được sinh khởi từ nhân duyên.
Với một hệ luận như thế trong tri thức chúng ta làm sao
mà không chấp nhận được.
Ở đây, luận đề triết học đầu
tiên của Trung Quán là phê bình những
kiến chấp sai lầm về nhân duyên của học phái
Vaisesika và Ðại chúng bộ.
1- Bài tụng số 3 :
"Các pháp không phải tự nó
sinh, Cũng
không phải từ cái khác sinh Không cùng sinh và không phải vô nhân Vì thế, biết nó là vô
sinh"
(2 dòng chữ Nho)
Trước hết, khi phủ định một tự thể, Long Thọ nói
rằng tự thể đó :
a)- Không sinh khởi từ chính
nó
Nếu một tự thể mà được sinh
khởi (chưa có trở thành có) từ chính
nó, thì tất yếu, nó phải hàm chứa hai yếu
tố - chủ thể sinh và cái được sinh. Và nếu chủ thể
sinh và cái được sinh là hai yếu tố sai biệt,
nghĩa là một bên là nhân (chủ thể sinh)
và một bên là quả (cái được sinh),
thì tất nhiên, chúng có hai tự thể
khác nhau. Như thế, một tự thể mà có những yếu tố
khác nhau thì không thể gọi là tự thể, hay
là không tự thể, cũng như hư không không thể
sinh ra từ hư không, và cũng không bao giờ có
cái hư không thứ hai nào khác với bản thể hư
không vốn tự hữu. Do đó nói rằng, một tự thể
không sinh khởi từ chính nó.
b)- Không sinh khởi từ một
cái khác
Nếu một tự thể, như lửa chẳng hạn, thì cái khác
nó, như nước chẳng hạn, cũng là một tự thể. Và môỵi tự thể đều có yếu tính của
nó (như lửa thì nóng, nước thì lạnh v.v...) - vì thế, tự thể này không thể được
sinh ra từ tự thể kia, và tự thể kia cũng không thể được sinh ra từ tự thể này.
Do đó, nói rằng, một tự thể chính nó không thể được sinh ra từ một tự thể khác
nó.
c)- Không sinh khởi từ cả
hai
Như thế, một tự thể nếu đã
không được sinh khởi từ chính nó, cũng không
thể được sinh khởi từ cái khác nó ; vậy thì
cũng không thể được sinh khởi từ hai tự thể khác nhau hợp
lại. Ở đây, Trung luận phủ quyết luôn cả sự phối hợp của
hai tự thể độc lập, vì nếu có thể phối hợp được,
thì chính nó sẽ đánh mất cá biệt
tính của nó. Sự kiện này cũng giống như lửa
và nước, do có những yếu tính khác nhau
mà chúng không thể cùng hòa phối với
nhau. Do đó, nói rằng, một tự thể không thể được
sinh khởi từ cả hai - nó và cái khác
nó (tự và tha).
d)- Không sinh khởi không
phải vì không có nguyên nhân
Bất kỳ một sự thể hiện hữu
nào cũng được xem như là kết quả của những nguyên
nhân. Không có một kết quả nào mà
không có nguyên nhân. Nguyên nhân
chính là lý do hiện hữu (raison d'être) của
kết quả. Do đó, nói rằng, không sinh khởi
không phải vì không có nguyên
nhân.
2- Bài tụng số 4 :
"Tự tính của tất cả
pháp không
phải sinh khởi từ trong duyên vì bản chất của duyên là không có tự
tính Ðối với
tha tính cũng như thế"
( 2 dòng chữ Nho)
Từ bốn trường hợp nêu
trên (a-b-c-d), nếu thừa nhận bản chất của tự thể như là
những yếu tính cá biệt, độc lập, thì đương
nhiên, không thể thừa nhận sự có mặt của tất cả hiện
hữu trong thế giới sai biệt đa thù này. Và ngược
lại, nếu thừa nhận sự có mặt của tất cả hiện hữu, thì
nhất định không thể chấp nhận sự có mặt của các yếu
tính cá biệt, vốn được xem là tự thể đặc
thù. Như vậy, đi đến kết luận - rằng các pháp
là vô tự tính. Do đó, bài tụng số [4]
xuất hiện như là một kết luận, và nó nói
rõ, tự tính của các pháp không phải
là được sinh khởi từ trong "duyên" (theo như được quan
niệm). Vì bản chất của duyên là không
có tự tính, cho nên tha tính cũng như thế,
nghĩa là nó không có. Ở đây, Trung
Quán phê bác cả tự tính (nhân)
và tha tính (duyên), vì cả tự và tha
đều vô tính. Do đó, kết luận là "Duyên
sinh vô tính". Do duyên sinh vô tính
là nguyên lý cơ bản của mọi sự sinh khởi, nên
tất cả hiện tượng sự vật thống nhất và đa thù trong thế
giới tương duyên này đều được gọi là giả danh,
không thật có tự thể. Nó là sự biểu hiện của
"Duyên khởi", mà bản chất của Duyên khởi là
KHÔNG (SUNYATA). Như thế, "Duyên khởi" và
"Không" là lý tính đặc thù của "Trung
đạo".
3- Bài tụng số 5 :
"Tất cả pháp trên
đời Ðều được
sinh khởi từ bốn duyên : nhân duyên và vô gián duyên (80) sở duyên duyên và tăng thượng
duyên Ngoài
bốn duyên sinh này Không có duyên thứ năm nào khác".
( 2 dòng chữ Nho)
Như thế, tất cả pháp đều được biểu hiện từ bốn
duyên :
a)- Nhân duyên
:
Nhân duyên ở đây
không nhằm chỉ đến tự thể, cá thể, hay cá biệt
tính nào hết, mà nhân là sáu
căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và duyên
là sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp), do căn và trần tiếp xúc với nhau mà
thế giới sai biệt đa thù này được biểu hiện khác
nhau.
b)- Vô gián duyên
:
Chính do nơi sự tiếp
xúc không gián đoạn giữa tâm thức và
các biểu hiện của nó (tâm sở) mà thế giới
sai biệt đa thù này được cấu thành trong tương
quan của nhận thức.
c)- Sở duyên duyên
:
Mối quan hệ giữa tâm
và các biểu hiện của nó (tâm sở) là
do nương tựa vào duyên mà vận hành,
nên gọi là duyên-duyên. Do duyên
duyên mà mọi biểu hiện của thế giới sai biệt này
được nhìn nhận như là một tỗng tướng.
d)- Tăng thượng duyên
:
Do tính cách năng động của các quan năng (6 căn)
tác động vào thế giới hiện hữu mà sinh khởi lên những biểu hiện-sáng tạo trong
cơ đổ của tâm thức, như là dòng vận hành bất tuyệt và liên hổi vượt qua mọi
chướng ngại, nên gọi là tăng thượng (81).
Tóm lại, thế giới quan của
Trung Quán là những gì sinh khởi từ "Bốn
duyên", và đó cũng là những gì
có thể nói được trong cái nhìn của triết
học Trung Quán.
(Ðây là phần đại cương khảo sát về nhân
duyên).
C.- Khảo Sát Về Thời
Tính
(Trung luận, Chương II, gổm 25 bài tụng,
ÐCTT/ÐTK. No.1564, tập 30, trang 03..., phẩm Quán khứ lai).
Chúng ta thấy rằng, Trung
luận được mở đầu từ phẩm "Quán nhân duyên",
mà trong "Quán nhân duyên" thì được mở
đầu bằng Tám cái không (Bát bất). Tám
cái không này là nội dung cơ bản của
phép biện chứng phủ định, hay nói đúng hơn,
nó là điểm trung tâm, xuyên suốt toàn
bộ phép biện chứng của Trung Quán. Trong thể cách
diễn đạt, nó được nói đến bằng Tám cái
không, nhưng thực chất mục tiêu tối hậu của nó, nếu
có thể nói được, cũng chỉ là "Nhất thiết
pháp không". Và "không" như thế nào,
trong phần "Phê bình nhân duyên" đã
trình bày khái lược. Giờ đây, bước sang một
luận đề thứ hai đó là phê bình về "Thời
Tính".
Như đã trình
bày ngay từ đầu, Trung luận ra đời nhằm mục đích
"phá tà hiển chánh", phá bỏ mọi kiến chấp
sai lầm để thể nhập thực tại-Tính Không. Nhưng trước viễn
cảnh của thực tại, chứng lý tối thượng và hiển
nhiên của con người vẫn là thế giới được vây bủa bởi
muôn ngàn sự thể cá biệt mà hoài vọng
của tri thức thường tình luôn mong muốn sở hữu hóa
căn tính tự nhiên của sự vật và bao phủ cho
môỵi môỵi hiện thể một ngã tính độc lập hay
là một bản sắc cá biệt, để rổi bám víu lấy
nó dễ dàng hơn. Và bao lâu tri thức của con
người còn hoạt động trong sự thủ trước như thế, thì đối
tượng của tri thức vẫn là sự hiện hữu của vô vàn
sai biệt. Như thế, làm sao chúng có thể một phen
diện kiến "chân lý" trên đỉnh hư không, khi
mà mọi thứ điên đảo mộng tưởng của trần gian mộng mị đều
đặt trọn trên đôi vai vuông vắn của chúng. Nếu
muốn quay trở lại, thì trước tiên hãy quăng tất cả
những gì được thủ trước ngay trong tâm thức của
mình, để trả nó cho nó một sự thanh bình.
Vì chỉ có sự thanh bình thực thụ mới khả dĩ đi
vào hiện quán và thể nhập thực tại-Tính
Không. Và như thế, vấn đề được đặt ra ở đây
chính là vô thường - cánh cửa đầu tiên
để tiếp xúc với Tính Không. Do năng lực hiện
quán về vô thường, mà con người rõ được
cái tính chất như mộng như huyễn của sự vật, từ thế giới
ý niệm cho đến thế giới hiện thực khách quan, như cỏ
cây, hoa lá, sông suối, núi đổi, chiếc xe,
tòa nhà, con voi, con ngựa, đàn ông,
đàn bà... Vả lại, khi đối diện với thế giới hiện thực,
con người thường đụng phải các nguyên lý công
ước về nhân quả, về thời gian v.v... Và, nếu thừa nhận
định luật nhân quả thì đương nhiên phải thừa nhận sự
hiện hữu của thời tính như đã được phạm trù
hóa theo thể cách của quá khứ, hiện tại và
vị lai. Và như thế, một sự thể nếu được quy định bởi nhân
quả và thời gian, thì sự thể đó chỉ có thể
xuất hiện như một tỗng thể và chỉ làm đối tượng cho tri
thức thường nghiệm. Và, nếu chỉ nhận diện hiện hữu qua tỗng thể,
hay tỗng tướng của nó không thôi, thì
đó là một nhận thức phiến diện và sẽ không
bao giờ đạt đến bất kỳ một sự thật nào cả. Do đó, chỉ khi
nào đạt đến một sự kiến chiếu từ trong cái bản thể tự
nội, thì khi đó mới đủ khả năng thể nghiệm chân
lý. Ðó chính là khi mà chủ thể
hiện quán và đối tượng hiện quán cùng hiện
hữu trong môỵi sát na sinh diệt ; ở đó, mọi sự thể
đều được hiển bày trong tự tướng của nó trên
cùng "dòng vận hành" của thực tại-chân thực,
một thứ thực tại phi thời gian. Vì thế, những nôỵ lực của
Trung Quán trong việc phủ định mọi nguyên lý
công ước của thời gian cốt là để giúp soi
sáng mọi sinh mệnh phù vân của hiện thể trước định
luật vô thường.
1- Bài tụng số 1 :
"Cái đã đi không
đi Cái chưa
đi cũng không đi Ngoài cái đã đi và chưa đi Cái đang đi cũng không
đi"
(2 dòng chữ Nho)
Bài tụng trên, như ta thấy, trước hết, nó giả
định một "chủ thể đi" và một "hành động đi" trên căn bản của ba thời - quá khứ,
hiện tại và vị lai ; rổi sau đó, nó phủ định cả "tính cách vận hành của hiện
thực" và "thời tính của hiện thực".
Trước hết, bàn về thời
tính của hiện thực. Do thừa nhận giá trị của tương quan
nhân quả (từ nhân đi đến quả) của một sự thể hay một
tác dụng mà buộc lòng phải nói đến thời
tính. Ở đây, thời tính xuất hiện như sự nối kết của
một dòng tương tục kéo dài từ quá khứ đến
hiện tại và vị lai. Tỉ dụ, một kẻ bộ hành lang thang
trên con đường dài vô tận, đi qua một đoạn đường rổi
anh ta dừng nghỉ ; như thế, điểm dừng nghỉ sẽ được gọi là hiện
tại, và khi hiện tại được nói ra, thế có nghĩa
là điểm hiện tại đó xuất hiện trong tương quan nối kết
giữa quá khứ (đã đi), hiện tại (đang đứng) và
tương lai (sẽ đi). Như vậy, bất kỳ một hiện tại nào, cũng cưu
mang trước nó một tương lai và sau nó một
quá khứ. Nếu không có quá khứ sẽ không
có hiện tại ; nếu không có hiện tại sẽ không
có vị lai ; quá khứ và vị lai nếu không
có, thì hiện tại cũng không có. Do
đó, trong diễn tiến của suy luận, trước bất kỳ một điểm hiện tại
nào cũng có một chuôỵi dài của quá
khứ, hiện tại và vị lai. Ở đây, tính chất của thời
tính chỉ được xét đến trong tương quan với tác
dụng mà thôi. Ngược lại, đối với một sự thể không
có tác dụng, nghĩa là không nằm trong đối
tượng của tri thức, thì đương nhiên, thời tính sẽ
không được bàn đến.
Trở lại với bài tụng
trên, chúng ta thấy rằng, "cái đã đi
không đi", vì hành động đi đã xảy ra rổi,
nó không có trong hiện tại. "Cái chưa đi
cũng không đi", vì hành động đi chưa xảy ra.
Và "cái đang đi cũng không đi", vì
hành động đang đi không thể xác định, gọi là
"đang đi" vì nó tương quan với cái "đã đi"
và "sẽ đi". Và để giải rõ hơn sự kiện này,
bài tụng số 12 nói :
"Không có hành động vừa cất
bước trong cái đã đi, Không có hành động vừa cất bước trong cái chưa đi,
Không có hành động vừa cất
bước trong cái đang đi, Vậy, hành động vừa cất bước xảy ra ở chổ nào ?"
(2 dòng chữ Nho)
Từ bài tụng trên, ta
sẽ bàn đến tính cách vận hành của hiện
thực. Ở đây, nếu căn cứ vào nguyên lý
Duyên khởi, thì rõ ràng thời gian vốn
là không có thực thể, nó chỉ được nói
đến trong ý niệm và chỉ có trong ý niệm chứ
không có trong thực tại. Bởi lẽ, trước hết nó
hoàn toàn không có một biên giới
nào để phân định giữa khoảng cách của ba thời. Cũng
cùng một khái niệm thời gian, như hiện tại chẳng hạn,
nhưng đối với người này thì nó là
quá khứ, đối với người khác là vị lai v.v... Cho
đến cái mà gọi là hiện tại chính nó
cũng là bất định. Vì nó luôn luôn
là hành động đã khởi và vẫn còn
đó, tức là ngay nơi điểm mà hành động bắt
đầu. Như thế, đó là một thứ hành động bắt đầu
và phải "bắt đầu mãi mãi"..., nếu vượt qua
thì trở thành quá khứ, mà dừng lại
thì biến thành tương lai. Do đó, sẽ không
có bất kỳ một hiện tại thuần túy nào có thể
hiện hữu trong dòng vận hành của thực tại. Như tiếng
vôỵ của bàn tay, nếu không vôỵ sẽ là vị
lai, nếu vôỵ sẽ là quá khứ, còn hiện tại,
nó chỉ là một ý niệm được phát sinh trong
tương quan giữa quá khứ và vị lai, vậy thôi.
Dù có hay không có một giả định về thời gian,
mọi hiện hữu đều phải trôi lăn theo định luật vô thường, nghĩa là chúng luôn
luôn vận hành, một sự vận hành bất tuyệt vượt qua mọi khuôn khỗ của thời gian,
vượt qua mọi ý niệm trong tri thức và trong suy luận. Ðó là một thứ vận hành mà
trong con mắt của tri thức thường tình, biểu hiện của nó là sinh, lão, bệnh, tử
; là sinh, trụ, dị, diệt ; là thành, trụ, hoại, không ; là phân, ly, phi, tán
v.v...
Sự bàn luận như trên cốt là để phá hủy mọi khuôn
khỗ ước lệ và ý niệm về thời gian trong cái nhìn được phóng chiếu trên chiều
tuyệt đối. Phủ định sạch trơn về quá khứ, hiện tại và vị lai ở đây không có
nghĩa là sự phá vỡ mọi cơ cấu trật tự của nguyên lý tương quan nhân quả, nếu xét
trên bình diện công ước ; cũng không phải là sự thừa nhận có một khả thể tổn tại
theo kiểu bây giờ và ở đây (the here and now). Mà trái lại, mục tiêu thực tiễn
của nó chính là sự khai thông-phương tiện nhằm đưa đến một sự toàn tri (giác
ngộ) trong bản thể-thực tại-chân như, TATHATA.
(Ðây là phần đại cương khảo sát về thời
tính).
D.- Khảo Sát Về Tứ
Ðế
Qua phần trình bày về
"nhân duyên" và "thời tính", chúng ta
hẳn phần nào nắm bắt được lối nói đặc thù của
Trung Quán, đó là một lối nói biện luận
và phân tích cụ thể các vấn đề, cho
dù được xem là nhỏ nhoi. Và những gì được
phân tích đại cương trên cũng là những bước
đi cơ bản để đọc và hiểu Trung Quán. Dưới đây sẽ
là phần trình bày về Tứ đế, Chương thứ XXIV, gổm
40 bài tụng, ÐCTT/ÐTK, No.1564, tập 30, trang 32. Phần
trình bày này được xem như là tóm
tắt thông điệp chính của toàn bộ Trung Quán
luận. Ðộc giả nếu muốn tìm hiểu thêm xin đọc
nguyên bản Việt dịch Trung Quán luận và các
phụ bản đối chiếu chữ Sanskrit và chữ Hán ở phần sau.
Theo truyền thống, giáo
lý Tứ thánh đế được xem như là một trong những
giáo lý cơ bản nhất của Phật giáo. Nội dung của
nó là nói lên sự thật (Thánh đế) của
khỗ đau, nguyên nhân khỗ đau, sự chấm dứt khỗ đau và
con đường đưa đến sự chấm dứt khỗ đau. Tứ đế được Phật nói ra
trong thế cách đặc thù của Trung đạo, nghĩa là
nó vừa là nền tảng, lại vừa là đỉnh cao trong sự
đưa đến thể nhận hai chân lý - chân đế và tục
đế - một cách toàn diện. Có thể nói rằng,
trong suốt quá trình truyền giáo của Phật từ sau
khi Ngài thành đạo cho đến lúc nhập Niết
bàn - theo quan niệm lịch sử - Ngài đã khởi sự
truyền giáo bằng bài pháp Tứ đế, và
Ngài đã kết thúc công cuộc truyền
giáo cũng bằng pháp Tứ đế. Do đó, vai trò
của Tứ đế vô cùng quan trọng, nó làm nền
tảng cho toàn bộ cơ đổ của lịch sử phát triển Phật
giáo (82).
Bây giờ, đến lượt Tứ đế được
soi sáng trong đôi mắt của Trung Quán. Như
chúng ta đã biết, tiền đề triết học của Trung Quán
là "nhất thiết pháp không", vậy định mệnh của Tứ đế
sẽ như thế nào đây ? Vì lẽ, nếu phủ nhận Tứ đế,
có nghĩa là phủ nhận khỗ đau, phủ nhận nguyên
nhân của khỗ đau, phủ nhận Niết bàn và phủ nhận
luôn cả con đường dẫn đến Niết bàn. Và nếu chấp
nhận như thế, thì xem như là phủ nhận luôn cả sự
có mặt của các quả vị Thanh Văn, La Hán,
Bích Chi, Bổ Tát và cho đến Phật đạo. Nhưng, nếu
phủ nhận tất cả (như tiền đề của Trung Quán nói),
mà không phủ nhận Niết bàn, Thanh Văn, La
Hán... cho đến Bích Chi, Phật đạo thì hóa
ra tiền đề Trung Quán là hư dối ? Vậy, sự thể sẽ như thế
nào ? Trung luận nói rõ : "Nếu cho rằng tất cả đều
là không, không có sinh cũng không
có diệt, như thế sẽ không có khỗ-tập-diệt-đạo, bốn
pháp Thánh đế. Do không có Bốn thánh
đế mà khỗ đau, nguyên nhân của khỗ đau, sự chấm dứt
khỗ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt khỗ đau cũng
không có. Do không có Bốn thánh đế
nên không có bốn đạo quả, và không
có luôn cả bốn hướng, bốn đắc. Và nếu như
không có Bát thánh hiền Tăng, thì
Tăng bảo cũng không có ; nếu Bốn thánh đế
không có thì Pháp bảo cũng không
có ; nếu Tăng bảo Pháp bảo không có
thì Phật bảo cũng không có. Và nếu cho rằng
như thế, là phá hoại Tam bảo (?). Nếu chấp rằng "nhất
thiết pháp là không" là phá hủy cả
nghiệp báo, nhân quả, tội phước, phá hủy cả Niết
bàn và các pháp thế gian (?)" (các
bài tụng từ số 01 đến số 06).
Và để giải thích
những nạn vấn trên, Long Thọ đã trả lời một cách
dứt khoát rằng : "Chính vì bản chất của các
pháp là đều do duyên khởi, nên tôi
nói là KHÔNG, là GIẢ DANH và cũng
là Trung Ðạo" (bài tụng số 18).
(2 dòng chữ Nho)
Và Long Thọ cũng nhắc nhở rằng : "Khi nói pháp
để độ chúng sinh, Phật căn cứ trên hai chân lý (Nhị đế)... Nếu người nào không
biện biệt được hai chân lý này, thì không thể hiểu được Phật pháp" (bài tụng số
08 và số 09).
Như thế, ta thấy rằng tất cả những
gì Phật nói ra đều là pháp phương tiện, tức
là nói để cho người trần tỏ ngộ. Và pháp
phương tiện thì không thể nói là chân
đế mà chỉ là tục đế. Vì lẽ, đối với chân đế
thì tuyệt vọng vô ngôn, nó là bất khả
thuyết bởi ngôn ngữ. Và đó chính là
cảnh giới hiện quán của Phật, một con người giác ngộ. Mặc
dù, giữa Phật và chúng sinh tuy không
khác trong "Tỳ lư hoa tạng", nhưng khi chưa giác ngộ
thì chúng sinh là những sinh linh đang chìm
đắm trong biển vọng cuổng si, làm thế nào mà Phật
có thể hiển bày cảnh giới "chân thật bất hư" của
Ngài cho chúng. Vì thế, Ngài đã
dùng đến phương tiện (tục đế) như là con đường duy nhất
khả dĩ để thực hiện sứ mệnh truyền trao bức thông điệp
"không lời" cho chúng sinh, dắt dẫn chúng đi
vào thế giới của "nghìn năm bất diệt". Do đó, tất
cả những gì mà Phật nói ra là nói
cho chúng sinh chứ không phải là nói cho
Phật. Và như thế, khi nói Ngài phải dùng
đến ngôn ngữ của chúng sinh ; mà ngôn ngữ của
chúng sinh, như chúng ta biết, nó hoàn
toàn bất lực trong việc miêu tả cảnh giới tuyệt đối. Vai
trò của nó - tức ngôn ngữ - là ở chôỵ
"chỉ dẫn" chứ không phải là "miêu tả", như
ngón tay chỉ mặt trăng (83), vậy thôi. Như thế, tất cả
pháp được nói ra đều là pháp phương tiện.
Ðiều này được Phật xác định trong kinh Pháp
Hoa như sau : "Ba đời mười phương chư Phật, duy chỉ có một Phật
thừa, không hai cũng không ba, trừ phi Phật dùng
phương tiện nói". Và nếu quả là như vậy,
thì cái mà gọi là Phật, là Niết
bàn, là Thanh Văn, La Hán v.v... cho đến
các giáo lý như Không, Vô ngã
v.v... đều được xem là pháp phương tiện ; vì nếu
nó thật sự là chân lý cứu cánh
thì đương nhiên Phật đã không nói ra.
Ðây là điều được Long Thọ nhấn mạnh. Do đó,
cái gì được nói ra ở đây là đều do
Duyên khởi. Kẻ nào không biết được điều đó
thì gọi là kẻ kiến chấp mê lầm.
Tuy nhiên, nói như thế
không phải là để phủ nhận tất cả, mà trái
lại, nói phủ định là nhằm khẳng định, khẳng định một
"chân trời" không bao giờ hiện hữu trong tương quan đối
đãi, mà con người hằng tưởng là nó ở ngang
trong tương quan đối đãi. Cũng như một kẻ khùng
điên đứng trước mặt biển xanh của đại dương bao la mênh
mông, y cứ tưởng rằng ở đằng xa xăm vô tận bên kia
có một đường chân trời thật sự, và y hão
huyền mơ mộng sẽ đạt đến bên cạnh chân trời. Mộng tưởng của
y quả là điên dại, vì vĩnh viễn sẽ không bao
giờ có cái đường chân trời ấy. Nó vốn vượt
lên trên mọi cương tỏa trong tương quan nối kết của trần
gian, như mặt trời trên đỉnh phù vân ; cũng vậy,
Niết bàn, Phật, không hề có trong suy tư và
mộng tưởng, hà huống là có trong kết cấu logic của
luận lý, ngôn từ. Vì thế, đối với những khái
niệm về Phật, về Niết bàn v.v... thì không phải
là Phật, là Niết bàn thực thụ ; do đó,
nó được gọi là Không, là Giả danh. Nhưng nếu
pháp, như Phật, Niết bàn là không, là
giả danh thì sao lại xuất hiện các tên gọi định
danh, và do đâu mà các tên gọi
đó xuất hiện ? Ðiều này được Tăng Duệ, trong lời tựa
viết cho Trung luận, nói rằng : "Thực phi danh bất ngộ", nghĩa
là một sự thể nếu không được gọi tên thì sự
thể đó sẽ không được biết đến. Vì thế, KHÔNG
và GIẢ DANH ở đây là nhằm chỉ đến cái
tên gọi giả lập và cái tự tính giả lập
mà con người áp đặt cho môỵi môỵi hiện hữu
trong thế giới thực tại. Vả lại, thực tại chính nó như
thế nào, có hay không có, dài hay
tròn, cứng hay mềm, đàn ông hay đàn
bà v.v..., đó là điều không thể biết được
khi mà con người chưa thể nhập vào dòng vận
hành của thực tại. Con người chỉ có thể gọi tên
nó, đặt tên nó, định nghĩa nó theo sự thấy
biết bất thường của con mắt khi trong khi đục, khi mờ khi tỏ, đại
khái thế thôi. Từ đó, pháp được nói
ra ở đây có ý nghĩa là Trung Ðạo.
Nghĩa là một mặt nó phá hủy mọi thiên kiến
sai lầm của tục đế, một mặt nó làm cho chân đế được
hiển thị trưng bày. Như thế, phá hủy là xây
dựng và xây dựng là phá hủy. Trung đạo
là như thế. Vì vậy, Long Thọ nói : "Nếu không nương vào tục đế thì
không thể đạt đến chân đế ; nếu không thể đạt đến chân đế, thì không thể biết
Phật pháp là gì". Tục đế và chân đế là một cặp song quan luận trong mọi
tiến trình suy cứu để đạt đến chân lý theo con đường ngôn ngữ. Và khi đã qua đến
bờ bên kia rổi, thì chân, tục không còn được bàn đến nữa.
Và cuối cùng, Niết
bàn nếu có thể quan niệm, thì phải quan niệm như
thế nào ? Long Thọ viết : "Nếu tất cả pháp là
không, không có sinh cũng không có
diệt, vậy đoạn cái gì và diệt cái gì
mà nói là chứng Niết bàn ?". "Không
có chứng đắc, cũng không có đạt đến, không
có sinh cũng không có diệt, không có
thường cũng không có đoạn, gọi đó là Niết
bàn". Vậy Niết bàn là cái gì, ở
đâu ?
Long Thọ viết tiếp :
"Niết bàn và thế gian không có gì sai
biệt, Thế gian và Niết bàn cũng không có
gì sai biệt, Niết bàn và thế gian chúng
không hai, không khác".
(Ðây là phần đại cương khảo sát về Tứ
đế).
E.- Phần Kết Về Trung Quán
Luận
Qua phần trình bày đại cương về triết học Trung
Quán, chúng ta thấy rõ một số nét cơ bản như sau :
1- Trung Quán luận lấy tiền
đề cơ bản của nó là "nhất thiết pháp không"
để soi sáng cho mọi phê bình, luận giải của
nó trước tất cả học thuyết. Ðó là một tiền đề
bất hủ vốn được xem như là một công án đặc
thù và vĩ đại của toàn bộ triết học Trung
Quán. Bất kỳ lúc nào và ở đâu,
cái KHÔNG vẫn xuất hiện như là một vĩnh thể bất
diệt, trong công ước cũng như trong tuyệt đối. Hễ mở miệng ra
là KHÔNG, nói lên là KHÔNG,
KHÔNG hiện hữu trong suốt ba thời trong ý niệm cũng như
trong biểu hiện của thế giới thực tại. Cái gì ở đây
có thể đối thoại với KHÔNG, chỉ là một sự IM LẶNG ;
một sự IM LẶNG không phải trong tĩnh mịch cô liêu của
thế giới hư vô không tận, mà là sự IM LẶNG
trong CÔ KHỞI của thực tại chính nó đang mải miết
trôi chảy, một thực tại không thể nói là
"Bây giờ và ở đây".
2- Cánh cửa đầu tiên
để mở ra và nhảy vào cái KHÔNG chính
là sự hiện quán về Duyên khởi và Vô
thường. Nếu trước hết không tri nhận được nó thì
không thể biết gì về Tính Không. Không,
một mặt nào đó là pháp đối trị theo như
quan niệm bình thường ; nhưng mặt khác, nó
chính là bản thể tự nội của thế giới Duyên sinh,
một thế giới mà nếu không có nó thì
không thể hình thành. Nhưng không vì
thế mà Tính Không được xem như là một bản
thể trường tổn, bất di bất dịch ; vì ngay từ đầu của tiền đề cơ
bản, nó đã phủ quyết tất cả, phủ quyết về mọi đối tượng
hiện thể, rổi sau đó nó phủ quyết luôn cả
chính nó. Cho đến khi nào, không còn
thủ trước hoặc là có hoặc là không,
thì khi đó, cánh cửa bất tử sẽ mở ra cho những ai
có mắt nhìn thấy, có tai để nghe.
3- Sự nỗi bật của giáo
thuyết về Không là Trung đạo. Nó khai thông
một con đường phương tiện để dẫn đến cứu cánh. Do đó, tự
thân nó không bị rơi vào cực đoan, cho
dù có thể nói nó là một thứ hư
vô luận, một thứ phủ định luận v.v... Như thế, Trung đạo
chính là điểm mở đầu của cuộc hành trình về
tâm linh, và cũng là điểm kết thúc trong
cuộc hành trình đó, một cuộc hành
trình vượt lên trên mọi đối đãi phân
biệt, một cuộc hành trình không có người đi,
không có hành động đi, không có
quá khứ, không có hiện tại và vị lai ;
đó là một cuộc hành trình mà
không lưu lại bất kỳ một dấu vết nào của sự đi và
đến.
4- Ðôi mắt KHÔNG tự nó không là gì cả, nhưng lại
cưu mang một sức thần nhiệm mầu, hễ chiếu rọi vào đâu, thì thể tính trơ lì bất
động ở đó đều tan biến, như thần lực của ánh sáng. Khi nào và ở đâu, hễ nó xuất
hiện thì mọi bóng tối cho dù có ngự trị cả nghìn năm từ một quá khứ xa xôi bất
định nào, cũng đều "đứng dậy ra đi" trong niềm hỷ lạc của Vô Niệm. Sự phá hủy và
tiêu diệt của tính Không là như thế.
5- Giáo thuyết về
Tính Không không hề phá vỡ mọi trật tự trong
tương quan nhân quả, trong luân thường đạo lý.
Vì ngay từ tự thể, nó đã KHÔNG, thì
lấy gì để gọi là phá vỡ khi mà chủ thể
phá vỡ cũng không và hành động phá vỡ
cũng không. Sự phá vỡ ở đây có hay
không là tùy vào cái nhìn của
môỵi con người. Pháp bản chất của nó vốn là
như vậy (pháp nhĩ như thị). Nó không can hệ
gì đến cái cơ cấu tuần hoàn của logic suy tư nội
tại. Nó luôn luôn hiện hữu như là
chính nó và theo thể cách của nó.
Mọi đúng sai, đẹp xấu, có không, như thế này
như thế kia v.v... là do tâm thức cuổng si của con người
tự biểu hiện đấy thôi.
6- Ðiều độc nhất vô nhị ở
đây là sự lôi kéo về trần thế này
và con người này một trú xứ nhân gian Tịnh
độ từ đâu không biết... mà chúng ta cứ những
tưởng trú xứ của niềm phúc lạc vô biên
đó không có ở đây, ở mảnh đất gổ ghề, cấu
nhiễm của những sinh linh đang thất thểu trong vui buổn, say tỉnh với
bao nôỵi khỗ trầm luân. Dưới ánh sáng của
Tính Không, lần đầu tiên chúng ta biết rằng
quê hương của Niết bàn là trần thế. Và giật
mình réo gọi, "ối lổ lộ thay ! Phật đã vào
Niết bàn ngay khi Ngài chưa đầy 40 tuỗi".
7- Chấm dứt đường hí luận khi nào tri nhận toàn
diện về Tính Không. Con đường dẫn đến sự toàn tri đó là Duyên sinh, Vô thường,
Vô ngã, Giả danh, Trung đạo và Nhị đế.
(Ðây là phần đại cương về triết học Trung
Quán).
~oOo~
Trang chính
Chương 1
- Tổng Luận
Chương 2
- Thế Giới Quan Phật Giáo
Chương 3
- Sự Ra Đời Của Tánh Không Luận
Chương 4
- Học Thuyết Phân Kỳ Và Hệ Thống Phân Giáo
Chương 5
- Triết Học Tánh Không
Chương 6
- Đại Cương Triết Học Trung Quán
Chương 7
- Bản dịch Việt ngữ Trung Luận
Chương 8
- Chú Giải Các Thuật Ngữ Trong Trung Luận
~oOo~
|