Chương VII
Bản dịch Việt
ngữ Trung Luận
Ghi Chú Về Bản
dịch Lời Việt Trung Luận
Bản Trung luận lời Việt này
được dịch từ nguyên bản, được in trong Ðại tạng kinh/Ðại
Chính tân tu, mục số 1564 (Cf.Nos 1565-1567), tập 30, từ
trang 01-30. Phần được dịch là nguyên văn của Trung luận
do Bổ Tát Long Thọ trước tác, không dịch lời tựa
viết cho Trung luận của Thích Tăng Duệ, và phần sớ giải
của Phạm Chí Thanh Mục. Như thế, nội dung được dịch gổm 27
chương, 446 bài tụng, môỵi bài có 4
câu năm chữ. Mặc dù bản Hán dịch của ngài La
Thập rất bình dị, sáng tỏ, nhưng do quá cô
kết nên khi đọc để hiểu được triết lý uyên áo
của nó thật không dễ. Vì vậy, khi dịch sang tiếng
Việt, nếu dịch sang thể kệ (4 câu năm chữ trong một bài)
thì e rằng đọc cũng được nhưng sẽ không hiểu gì
hết. Do đó, tôi dịch thành văn xuôi để diễn
đạt rõ và cụ thể hơn. Phần diễn đạt này được căn
cứ vào "từ" đối chiếu giữa Hán văn và Phạn văn
ngay trong phần chú thích dưới cuối môỵi trang của
Ðại tạng. Sau phần dịch, tôi trích nguyên văn
bản chữ Hán và Phạn để độc giả tham khảo. Và, muốn
hiểu Trung luận dễ hơn, xin mời đọc các chương I, II, III, IV,
V, VI ở phần đầu trước khi đọc bản dịch.
Và cuối cùng, xin
nói thêm, luận của Bổ tát viết là vô
cùng tinh tế. Ðọc trong quán tưởng, họa may mới
có thể hiểu được. Ðó là kinh nghiệm thực tế
sau quá trình nghiên cứu, phiên dịch
và suy gẫm.
Do đó, hẳn không thể tránh khỏi lôỵi lầm và sai
sót trong bản dịch này. Kính mong được sự chỉ bảo của các bậc cao minh và sự
hoan hỷ chia sẻ của độc giả.
Sài Gòn, mùa Hạ '98
Thích Tâm Thiện
Trung Luận
Quyển Thứ Nhất
Chương I
Qúan Sát Về
Nhân Duyên
(gồm 16 bài
tụng)
1- Tất cả pháp vốn không
sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn, không giống cũng không khác,
không đến cũng không đi.
2- Khéo nói pháp nhân duyên
, diệt mọi hí luận. Nay con kính lễ Phật, Bậc thuyết pháp đệ nhất
.
3- Các
pháp không sinh ra từ tự tính, cũng không
phải từ cái khác sinh, không phải là
cùng sinh khởi, cũng không phải là không
có nguyên nhân. Từ đó mà biết rằng,
các pháp là Vô
Sinh.
4- Tự tính của các pháp,
không phải ở trong duyên, vì tự tính không có, nên tha tính cũng
không.
5- Các
pháp được hình thành đều nương vào 4
duyên, [ đó chính ] là nhân
duyên và vô gián duyên, sở duyên
duyên và tăng thượng duyên, ngoài bốn loại
duyên này, không còn duyên thứ năm sinh
pháp.
6- Quả được
sinh ra từ các duyên [điều kiện] hay là từ phi
duyên [vô điều kiện] ? Trong các duyên
đó đã sẵn có quả hay là không sẵn
có quả ?
7- Nếu như, nhân pháp ấy
sinh ra quả, thì pháp đó được gọi là duyên ; vậy, khi quả chưa sinh ra, sao
không nói nó là phi duyên ?
8- Do đó,[ nếu nói ]quả hoặc
có sẵn, hoặc không có sẵn trong các điều kiện - nhân duyên, đều không thể
được.
Vì
rằng, nếu quả không sẵn có trước thì làm
duyên cho cái gì, và nếu quả đã
có trước thì cần gì phải có duyên ?
9- Nếu quả
không phải trước có sẵn trong duyên mà sinh
ra, cũng không phải là trước không sẵn có
trong duyên mà sinh ra, thế thì làm sao được
nói rằng có các nhân duyên ?
10- Quả
lúc chưa sinh ra, thì làm sao có hoại diệt,
pháp diệt thì đâu có nhân duyên,
nên thứ đệ duyên cũng không có.
11- Như chư
Phật đã dạy, pháp chân thật nhiệm mầu, không
có pháp sở duyên ... thì làm thế
nào có sở duyên duyên.
12-
Các pháp vốn không có tự tính,
nên không có tướng thật, nếu nói vì sự
ấy có nên sự ấy có [ nói như thế ]
không đúng.
13- Rà
soát khắp nhân duyên, vẫn không tìm
được quả, nếu ở trong nhân duyên thật tình
không có quả, thì làm sao nói
là quả sinh ra từ nhân duyên ?
14- Nếu cho rằng trong duyên
không có quả, nhưng quả lại từ duyên sinh, thế thì tại sao cái quả đó không sinh
khởi từ phi duyên ?
15- Nếu quả được sinh ra từ
nhân duyên, nhưng [ bản chất của ] nhân duyên lại không có tự tánh ; nếu quả
được sinh ra từ cái vô tự tính, như thế đâu được bảo là từ nhân duyên
?
16- Như thế,
quả không phải sinh ra từ duyên, cũng không phải từ
phi duyên, vì quả không có, nên
duyên và phi duyên cũng không vậy !
Chương II
Quán Sát Về Sự
Vận Hành
(gồm 25 bài
tụng)
1- Khi đã đi không đi, khi
chưa đi cũng không có đi. Ngoài khi đã đi và chưa đi, khi đang đi cũng không có
cái đi.
2- Ngay khi
chỗ chuyển động thì có đi, lúc đó mới
có đi chứ không phải lúc đã đi hay chưa đi,
cho nên chính lúc đi là có đi.
3- Vậy làm sao trong khi đi
lại cần có động tác đi ? Nếu tách rời động tác đi, thì không thể có khi
đi.
4- Nếu ai
đó bảo rằng, lúc đang đi là có đi, như thế
là sai lầm ; vì đã tách động tác đi,
mà vẫn có lúc đi, nếu như thế, chỉ có
lúc đi nó đi một mình.
5- Nếu cho
rằng lúc đi có đi, thế có nghĩa có hai thứ
đi : một là lúc đi ; hai là trong lúc đi
có động tác đi khác nữa.
6- Như thế, nếu có hai thứ
đi, thì phải có hai người đi ; vì lẽ, nếu tách người đi ra khỏi sự đi, thì động
tác đi không thể có được.
7- Như
đã nói, ngoài người đi không có động
tác đi ; do đó, vì không có động
tác đi, thì làm sao có người đi ?
8- Người đi
thì không có đi, người không đi cũng
không có đi, ngoài cái đi và
không đi, không có cái đi thứ ba nào
khác.
9- Nếu bảo người đi có đi,
như thế là không hợp lý, vì lìa động tác đi, người đi không thể có
được.
10- Nếu người đi có động tác
đi, thì phải có hai thứ động tác đi; một là động tác của người đi, và hai là
động tác của sự đi.
11- Nếu cho
rằng người đi có đi, ai nói như thế là sai lầm,
vì ngoài sự đi có người đi, mới được nói
là người đi có đi.
12- Không có động tác vừa
cất bước trong khi đã đi, không có động tác vừa cất bước trong khi chưa đi, và
cũng không có động tác vừa cất bước trong khi đang đi ; vậy, động tác vừa cất
bước xảy ra ở chỗ nào ?
13- Chưa cất
bước thì không có sự đang đi, và cũng
không có sự đã đi, trong khi đang đi và
đã đi phải có sự cất bước; còn khi chưa đi
có cất bước ?
14- Không có khi đã đi,
không có khi chưa đi, và cũng không có khi đang đi ; cả ba thời đều không có
điểm xuất phát, thì tại sao lại có sự phân biệt [ đã đi, chưa đi, và đang
đi]?
15- Người đi
thì không đứng yên, người không đi cũng
không đứng yên ; nếu bỏ người đi và không đi,
thì đâu có người đứng yên thứ ba ?
16- Nếu người
đang đi sẽ đứng yên, làm sao có lẽ ấy ; vì
lúc bỏ tác động đi, thì người đi cũng không
có được.
17- Khi đã đi và chưa đi thì
không có đứng yên, khi đang đi cũng không có đứng yên, tất cả động tác đi, dừng
đều đồng nghĩa với (sự) đi.
18- Nếu
nói động tác đi chính là người đi,
nói như vậy là không đúng ; nhưng nếu
nói động tác đi khác người đi, như thế cũng
không đúng.
19- Nếu nói rằng động tác đi
chính là người đi, thì như vậy tác giả và tác nghiệp là một ?
20- Nếu nói động tác đi đó
có khác với người đi, như thế ngoài người đi lại có tác động đi và ngoài động
tác đi lại có người đi.
21- Nếu động tác đi và người
đi là hai, thế thì do đồng pháp thành hay do dị biệt pháp được thành; cả hai đều
bất thành, như thế làm sao mà có động tác đi và người đi ?
22- Do động tác đi mà biết
người đi, như thế người đi ấy không thể dùng động tác đi; vì trước đó chưa có
động tác đi, cho nên cũng không có "người đi" đi.
23- Do động tác đi mà biết
người đi, người đi ấy không thể dùng một động tác đi nào khác, vì trong một
người đi không thể có hai sự đi.
24- Nếu quyết định thạt có
người đi, thì không cần dùng đến động tác đã đi, đang đi và chưa đi. Nếu không
quyết định thật có người đi, thì cũng không cần dùng đến động tác đã đi, đang đi
và chưa đi.
25- Ðộng tác đi cho dầu là
thật có hay thật không, người đi vẫn không dùng ba thứ đó [ đã đi, đang đi, và
chưa đi] ; do đó, động tác đi, người đi và điểm đi đều là không.
Chương III
Qúan Sát Về
Sáu Tình Thức
(gồm 8 bài
tụng)
1- [ Kinh
nói, có 6 thứ tình thức,] đó là :
mắt, tai, mũi lưỡi, thân và ý ; sáu
tình thức này thường liên hệ với sáu trần
là : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
2- Con mắt
không thể tự nó thấy chính nó ; nếu con mắt
không thể tự thấy nó, làm sao nó có
thể thấy các vật khác ?
3- Không thể lấy lửa làm ví
dụ để chứng minh con mắt thấy các trần cảnh, trong cái đi của ba thời, đã giải
đáp chung về ý nghĩa này.
4- Con mắt khi chưa duyên
với các trần cảnh, thì không thể gọi là thấy ; nếu nói rằng con mắt có thể thấy,
như thế là không đúng.
5- Cái
thấy không thể tự có, cái không thấy cũng
không có ; và nếu cái thấy bị phá
hủy, thì người thấy cũng bị phá hủy.
6- Nói xa rời hay không xa
rời cái thấy, người thấy cũng không thể có được ; vì không có người thấy, thì
không thể có sự thấy và cái có thể thấy.
7- Do thấy
và cái được thấy không có, nên thức,
xúc, thọ, ái..., và bốn sự chấp thủ..., và
các nhân duyên... làm sao lại có được ?
8- Tai, mũi, lưỡi, thân, ý ;
âm thanh và người nghe v.v... cũng phải được hiểu như thế ; tất cả đều là không,
như đã luận ở trên rồi.
Chương IV
Qúan Sát Về
Năm Uẩn
(gồm 9 bài
tụng)
1- Nếu xa lìa cái nhân của
sắc, thì sắc uẩn không thể có được. Nếu xa lìa sắc uẩn, thì cái nhân của sắc
cũng không thể có được.
2- Nếu
lìa nguyên nhân của sắc mà có sắc uẩn,
thì sắc đó không có nhân ; nhưng nếu
không có nhân mà sắc uẩn thành tựu,
điều đó không thể có.
3- Nếu
lìa sắc quả mà có sắc nhân, thì
đó là có nhân mà không
có quả, nếu bảo rằng không có quả nhưng có
nhân thì đó là điều phi lý.
4- Nếu trong
nhân trước đã có quả thì không cần
có nhân nữa, và nếu trước chưa có quả
thì cũng không cần đến nhân.
5- Nhưng nếu
không có nhân mà sắc vẫn hiện hữu thì
điều đó là hoàn toàn phi lý ;
vì thế, bậc trí giả không cần phân biệt.
6- Nếu cho rằng nhân và quả
giống nhau, điều đó là không đúng ; nhưng nếu cho rằng nhân và quả khác nhau,
thì điều đó cũng không đúng.
7- Thọ, tưởng, hành và thức
uẩn...cùng tất cả pháp khác đều như sắc uẩn vậy thôi.
8- Nếu có người trong lúc
nghị luận, không muốn dùng "nghĩa Không" để trả lời, thì sự trả lời đó bất
thành, người trả lời và người vấn nạn cùng hoài nghi như nhau.
9- Và, nếu có người vấn nạn
mà không y cứ vào "nghĩa Không" để chỉ rõ sai lầm của đối phương, thì cuộc vấn
nạn đó bất thành, cả hai người cũng hoài nghi như nhau.
Chương V
Qúan Sát Về
Sáu Ðại
(gồm 8 bài
tụng)
1- Không
tướng khi chưa xuất hiện, thì bấy giờ không có
cái gọi là hư không ; nếu hư không có
trước, thì chính nó không có
hình tướng.
2- Cái
không hình tướng ấy, không thể tìm thấy ở bất
kỳ nơi đâu ; trong các pháp vô tướng,
thì tướng không có tướng trạng.
3- Trong
cái tướng trạng và cái không có tướng
trạng, cái tướng trạng không có điểm tựa ;
ngoài cái có tướng trạng và cái
không có tướng trạng, cũng không có bất kỳ
điểm tựa nào cho tướng trạng.
4- Vì thuộc tính [năng
tướng] không có, nên tướng trạng [sở tướng] cũng không có ; vì tướng trạng không
có, nên thuộc tính cũng không có.
5- Vì thế, hiện tại đã không
có thuộc tính [năng], nên tướng trạng [sở] của nó cũng không ; vì cả thuộc tính
và hư không đều không, các đại [vật thể] khác cũng vậy.
6- Nếu
không có cái thật có, thì làm
sao có cái thật khồng ; có và không
đã không thật, thì ai mà tri nhận cái
có và không ?
7- Vì
thế, nên biết rằng, tướng hư không không thể
nói có và cũng không thể nói
không ; không phải tướng, cũng không phải có
thể biểu hiện ; đất, nước, gió, lửa và thức đều là
như vậy.
8- Kẻ mê lầm chấp các pháp
tướng có hoặc không, thì không thể thấy được các pháp tịch tướng.
Chương VI
Qúan Sát Về Sự
Ô Nhiễm Và Người Ô Nhiễm
(gồm 10 bài
tụng)
1- Nếu lìa khỏi sự nhiễm ô,
thì trước đã có người nhiễm ô ; do có người nhiễm ô, từ đó mới sinh ra sự nhiễm
ô.
2- Nếu
không có người nhiễm ô, thì làm sao
mà bây giờ có sự nhiễm ô. Có nhiễm
ô hay không nhiễm ô, người nhiễm ô cũng như vậy.
3- Người
nhiễm ô và sự nhiễm ô, có cùng
lúc thì không thể được, người nhiễm và sự
nhiễm cùng có, thì không có sự tương
quan với nhau.
4- Nếu người
nhiễm ô và sự nhiễm ô là một, đã
là một thì làm sao coi là hòa hợp ;
nhưng nếu người nhiễm ô và sự nhiễm ô là hai,
thì làm sao gọi là hòa hợp ?
5- Nếu là đồng nhất vẫn có
sự hòa hợp, thì khi rời bỏ sự hỗ tương cũng phải có sự hòa hợp ; và nếu là sai
biệt mà vẫn có sự hòa hợp, thì khi tách rời sự hỗ tương, cũng vẫn có sự hòa
hợp.
6- Nếu
khác nhau mà hòa hợp, thì người nhiễm
và sự nhiễm là gì ? Trước đó, người nhiễm
và sự nhiễm khác nhau, sau đó mới nói
là hợp ?
7- Nếu trước
kia, người nhiễm và sự nhiễm có hình thể
khác nhau, đã thành ra hình thể khác
nhau, như thế làm sao mà nói là có
hòa hợp nhau ?
8- Nói
tướng sai biệt thì không thành, cho nên muốn
hòa hợp, sự hòa hợp cũng không thành,
mà vẫn nói là sai biệt.
9- Vì
cái sai biệt đã không thành, nên
cái đổng thể cũng không thành ; vậy, trong
cái sai biệt nào mà nói là có
cái đổng thể ?
10- Như thế
người nhiễm và sự nhiễm, không phải hòa hợp
thành cũng không phải là không hòa hợp
thành; tất cả hiện tượng sự vật khác cũng vậy,
không phải hợp cũng không phải là không hợp.
~oOo~
Trung Luận
Quyển Thứ Hai
Chương VII
Qúan Sát Về Ba
Tướng
(gồm 35 bài
tụng)
1- Nếu sự sinh
khởi là pháp hữu vi, thì nó phải có
ba tướng ; nếu là thuộc pháp vô vi, thì tại
sao gọi nó là pháp hữu vi ?
2- Ba tướng (sinh, trụ,
diệt), hoặc tụ hoặc tán, đều không thể tạo thành tướng đặc thù ; thế tại sao mà
nói, trong cùng một chỗ đồng thời có ba tướng khác nhau.
3- Nếu
nói trong mỗi [sự] sinh, trụ và diệt, đều có tướng
hữu vi ; như thế nó trở thành vô cùng tận,
và vô cùng thì không phải là
hữu vi.
4- Từ sự sinh khởi này mà
phát sinh ra sự sinh khởi khác ; sự sinh khởi được sinh ra từ nguổn gốc, và cái
sinh ra từ nguổn gốc, cả hai được sinh ra từ cái đương sinh.
5- Nếu cho rằng cái sinh
khởi và cái được sinh khởi có thể sinh ra từ sự sinh khởi cơ bản, vậy thì sự
sinh khởi từ cội nguồn đó làm thế nào có thể sinh ra nguồn gốc của sự sinh khởi
?
6- Và nếu cho rằng, nguổn
gốc của sự sinh khởi nó được sinh từ cái khác ; và khi cái nguổn gốc đó do cái
khác sinh ra, thì làm sao nó có thể sinh ra cái khác ?
7- Nếu sự
phát sinh có thể sinh ra nguổn gốc, cái
phát sinh tự nó còn chưa có, làm sao
có thể sinh ra cái cội nguổn của sự sinh thành ?
8- Nếu, khi cái cội nguổn
của sự sinh thành ra đời, nó có thể sinh ra mọi sự phát sinh, nhưng cái cội
nguổn đó tự nó còn không có, làm sao mà sinh ra cái khác ?
9- [Lời phản
biện] Thí dụ như ngọn đèn, nó chiếu sáng
chính nó và chiếu sáng cho những cái
khác nó ; cũng vậy, đối với các pháp,
nó có thể vừa tự sinh và vừa sinh ra cái
khác.
10- [Lời
đáp] Ngay từ trong tự thể của ngọn đèn đã
không có bóng tối ; nơi ngọn đèn xuất hiện
cũng không có bóng tối, hủy diệt bóng tối
thì gọi là chiếu sáng, nếu không có
bóng tối, thì cũng không có sự chiếu
sáng.
11-
Làm thế nào khi ngọn đèn vừa phát
sáng mà đã phá tan mọi bóng tối ?
Ánh sáng của ngọn đèn khi mới phát ra, hẳn
không thể tỏa kịp đến bóng tối.
12- Và
nếu ánh sáng của ngọn đèn chưa tỏa kịp đến
bóng tối, nhưng nó có khả năng phá tan
bóng tối, như thế ánh sáng của ngọn đèn chỉ
ở tại một chôĩ mà vẫn có thể phá tan
bóng tối ở khắp nơi.
13- Vả lại,
nếu ngọn đèn, vừa có khả năng tự soi sáng cho
chính nó, lại vừa có khả năng soi sáng cho
những cái khác nó, thì bóng tối cũng
như vậy, nó vừa có khả năng che tối cho chính
nó, lại vừa có khả năng che tối cho những cái
khác nó.
14- Sự sinh khởi cũng vậy,
nếu khi chưa sinh mà đã có thể tự sinh, và nếu đã tự sinh rổi, thì cần gì phải
sinh nữa.
15- Sự sinh khởi không phải
được sinh ra từ cái đã sinh, cũng không phải từ cái chưa sinh, và cái đương sinh
cũng không ; điều này như đã được nói ở chương II.
16- Nếu bảo rằng các pháp
được sinh ra từ cái đương sinh, việc ấy đã không thành như trên nói ; vì nếu như
thế, tại sao nói rằng khi nhân duyên hòa hợp thì các pháp được sinh ra
?
17- Nếu bảo rằng các pháp
được sinh ra từ những điều kiện - nhân duyên, thì tính chất của nó là tịch diệt
; như vậy thì cái đương sinh và cái được sinh, cả hai đều là tịch
diệt.
18- Giả sử rằng, có một pháp
[sự thể] nào đó còn ở trong vị lai chưa sinh khởi, rồi bảo rằng pháp có sinh
khởi ; vậy thì pháp chưa sinh khởi ấy đã có rồi, cần gì phải cần đến sự sinh
khởi nữa ?
19- Nếu bảo rằng, cái đương
sinh nó sinh khởi, như vậy chính nó có khả năng sinh khởi, thế thì làm sao lại
có sự sinh khởi nào sinh ra cái đương sinh ?
20- Nếu lại bảo rằng, có một
sự sinh khởi, nó sinh ra cái sinh khởi, như thế sự sinh khởi sinh khởi vô cùng
tận ; ngoài cái năng sinh có sự sinh, vậy các pháp đều có thể tự
sinh.
21-
Pháp không phải là có sinh, pháp
không cũng không có sinh, có và
không đều không sinh, điều này đã được
nói rồi.
22- Nếu
các pháp đang trong thời hủy diệt, thì không
thể sinh ; nếu các pháp không có diệt, điều
này không thể có.
23-
Pháp vận hành thì không có chỗ trụ,
pháp đứng yên cũng không có chỗ trụ,
lúc đứng yên nó cũng không có chỗ trụ,
vì không sinh làm sao có trụ ?
24- Nếu
các pháp khi đang hoại diệt, thì không thể
trụ ; còn các pháp mà không có
sự hủy diệt, điều này không thể có.
25- Tất cả sự
vật hiện tượng trên thế gian này, đều thuộc về vô
thường già nua và tử biệt ; không thể có
pháp hữu vi nào đứng yên ngòai sự già
chết.
26- Trụ, không có tự trụ,
cũng không phải từ cái khác trụ, cũng như sinh không có tự sinh, cũng không phải
từ cái khác sinh.
27- Tất cả sự vật hiện
tượng, nếu đã diệt thì không có diệt, chưa diệt cũng không có diệt, lúc diệt
cũng không có diệt, vì tất cả vốn vô sinh thì làm sao có diệt.
28- Nếu tất
cả pháp thật có đứng yên [trụ], thì
không thể có sự biến diệt ; các pháp nếu
không có đứng yên, thì cũng không thể
có biến diệt.
29- Pháp khi ở hiện tại, lúc
đó không diệt ; nhưng pháp khi ở thời điểm khác, trong thời khác đó cũng không
diệt.
30- Như tất cả các pháp,
không hề có tướng sinh khởi, vì không có tướng sinh khởi, nên cũng không có
tướng biến diệt.
31- Nếu
các pháp là thực có tự tính,
thì chính nó sẽ không biến diệt ; vì
không thể trong bản thân một pháp vừa có
tướng có lại vừa có tướng không.
32- Nếu
các pháp quả thực là không, thì cũng
không có diệt ; tỉ dụ nói về cái đầu thứ
hai, vì nó đâu có nên không thể
chặt đứt được.
33- Các pháp tự nó không có
biến diệt, các điều kiện chung quanh nó cũng khoâng làm cho biến diệt ; cũng như
tự tướng (A) không sinh, thì tha tướng (B) cũng không sinh.
34- Như thế,
khi nguyên lý của sự sinh khởi, hình thành
và biến diệt (sinh, trụ, diệt) là bất thành,
nên pháp hữu vi sinh diệt cũng không có,
và do đó, làm sao có được pháp
vô vi không sinh diệt.
35- Tất cả
đều như ảo hóa, như chiêm bao, như sự giả hiện của
thành Càn Thát Bà. Nói có
cái này cái kia, sinh, trụ, diệt ; tất cả đều
[mộng ảo] như thế.
Chương
VIII
Quán Sát Về Tác nghiệp Và tác
Giả
(gổm 12 bài tụng)
1- Nếu khẳng định là
có tác giả, như thế bất tác mà có
định nghiệp ; nếu khẳng định là không có tác
giả, thì bất tác không có định nghiệp.
2- Nếu khẳng định nghiệp là
vô tác, thì nó không có
tác giả ; nếu cho rằng có tác giả nhưng
không có tác nghiệp, thì tự thân
tác giả không có nghiệp.
3- Nếu thừa nhận vừa có tác giả, vừa có tác
nghiệp, thì tác giả và tác nghiệp đều rơi vào lôỵi vô nhân.
4- Nếu đã rơi vào
vô nhân, thì không có nhân,
không có quả, không có nghiệp được tạo
tác (tác nghiệp), không có kẻ tạo ra nghiệp
(tác giả) và cũng không cần đến sự tạo tác
(tác pháp).
5- Nếu không có
nghiệp, kẻ tạo nghiệp và hành động tạo tác,
thì không có nghiệp báo, tội, phước ;
các nhân của nghiệp báo, tội, phước không
có, thì cái quả của nó cũng không
có.
6- Nếu không có tội,
phước, nghiệp báo, thì Niết bàn cũng không
có, tất cả những gì tạo nên đều như hư không,
không có quả báo gì hết.
7- Dầu chắc chắn rằng kẻ tạo nghiệp là có hay là
không, thì cũng không thể tạo ra cái nghiệp hay phi nghiệp. Vì rằng, nghiệp và
phi nghiệp khác nhau, nên hai thứ đó không thể có chung một chôỵ.
8- Có, không thể tạo
thành không ; không, không thể tạo
thành có ; nếu nói vừa có tác nghiệp
và tác giả là rơi vào lôi lầm, như
đã nói trên.
9- Tác giả không tạo nghiệp, cũng không tạo bất
định nghiệp ; nếu chấp vào nghiệp và bất định nghiệp là rơi vào lôỵi lầm, như đã
nói.
10- Tác giả là định hay bất định, vừa định vừa
bất định, không thể tạo ra nghiệp ; đây là sự sai lầm, như đã nói.
11- Nhân vì nghiệp nên có tác giả, nhân có tác
giả nên có nghiệp ; trong ý nghĩa như thế, nghiệp được hình thành, ngoài ra,
không có lý do nào khác.
12- Như trên, tác giả và tác nghiệp đều bị đả
phá, thọ, và thọ giả cũng như vậy ; đối với tất cả pháp nên quán như thế để loại
trừ kiến chấp.
Chương
IX
Quán Sát Về cội Nguồn
(gổm 12 bài tụng)
1- Mắt, tai, mũi... các căn,
khỗ đau và hạnh phúc... vân vân, ai sở hữu
các pháp như thế, thì gọi đó là cội
nguổn của ngã tính.
2- Nếu không có cái cội nguổn đó, thì ai là
người sở hữu của mắt, tai... và các pháp... vân vân. Vì thế, cho nên biết rằng,
trước đã có cội nguổn - ngã tính.
3- Nếu, lìa khỏi mắt, tai...
các căn, khỗ đau và hạnh phúc... vân
vân, trước đã có cội nguổn - ngã
tính, thì do đâu mà biết được như vậy ?
4- Nếu, lìa khỏi mắt, tai...
các căn, mà có riêng một cái
ngã - linh hổn ; như thế cũng có thể nói rằng,
lìa khỏi cái ngã - linh hổn, vẫn có sự hiện
diện của mắt, tai, mũi, lưỡi... các căn.
5- Nhờ vào các
pháp mà biết có người, nhờ vào con người
mà biết các pháp ; ngoài các
pháp không thể có con người riêng lẻ,
và ngoài con người, cũng không có các
pháp riêng lẻ.
6- Sự thật trong các căn, như mắt, tai, mũi,
lưỡi... vân vân, không hề có cội nguổn của ngã tính ; mắt, tai, mũi... tất cả
các căn, do tướng sai khác mà phân biệt.
7- Và nếu, mắt, tai, mũi,
lưỡi... các căn, thật sự không có cái
ngã tính bên trong, thì làm sao
môỵi căn, như mắt, tai, mũi, lưỡi... biết được trần cảnh.
8- Như thế, sự thấy giống sự nghe, sự nghe giống
cảm thọ, cho nên trong tất cả các căn thân, cần phải có một cái ngã - linh hổn
?
9- Nếu như, thấy và nghe khác nhau, thì sự cảm
thụ cũng khác, khi thấy cũng cần nghe, như thế cần phải có nhiều thần thức khác
nhau.
10- Mắt, tai, mũi, lưỡi...
các căn, các pháp khỗ đau, hạnh phúc
và cảm thụ... vân vân, sự hiện diện của nó
là do tứ đại mà thành, nhưng bản thân của
các đại (đất, nước, gió, lửa) vốn không có
thần thức.
11- Nếu các căn, như mắt,
tai, mũi, lưỡi... ; các pháp, như vui sướng buổn khỗ...,
bên trong chúng không có linh hổn, thì
các căn cũng không nên có mặt.
12- Các căn vốn không
có thần hổn, quá khứ, hiện tại và vị lai cũng
không có ; bởi lẽ, ba thời đều là không,
không có hữu - vô phân biệt gì hết.
Chương
X
Quán Sát Về Lửa Và Củi
(gổm 16 bài
tụng)
1- Nếu lửa là củi, thì tác nghiệp và tác giả là
một ; nếu lửa không phải là củi, thì ngoài củi vẫn có lửa.
2- Nếu thế, thì lửa luôn có, chứ không phải là
đốt củi mới có lửa. Vậy, không cần đến việc đốt lửa, nó là lửa tự nhiên.
3- Lửa đã không đợi
đốt củi mới có, vậy nó cũng không phải là
được sinh ra từ nhân duyên ; và lửa, vốn đã
cháy sẵn, thì không cần đến người đốt củi.
4- Nếu ai đó bảo rằng, lửa khi cháy là được đốt
cháy, lúc đó chỉ có củi cháy, vậy cái gì đốt, và bị đốt ?
5- Nếu củi là cái
gì khác, không thể đến thiêu đốt, không
thiêu đốt thì không làm tắt, không tắt
có nghĩa là thường tại vĩnh hằng.
6- Nếu lửa khác với củi,
và lửa có thể tìm đến củi, như thế chẳng
khác gì người đàn ông đến với người
đàn bà, người đàn bà đến với đến với người
đàn ông.
7- Nếu cho rằng lửa và củi, cả hai tách rời
nhau, như thế thì, lửa có thể đi đến thiêu đốt củi.
8- Nếu nhân nơi củi mà có lửa, và nhân nơi lửa
mà có củi, vậy cái nào có trước khi lửa và củi đều có ?
9- Nếu nhờ củi mà có lửa, thì lửa đã có rổi, rổi
mới cháy trở lại, như vậy trong củi không có lửa.
10- Nếu các pháp do
nương nhau hình thành, thì pháp đã
trở thành đối đãi, mà hiện tại thì
không có nhân đối đãi, nên cũng
không có pháp nào được hình
thành.
11- Nếu các pháp do
nương vào đối đãi mà hình thành, vậy
thì, khi chưa hình thành, sao không
có sự đối đãi nương nhau ; và nếu đã
hình thành rổi mới có sự nương tựa đối đãi,
như thế thì cần gì đến sự đối đãi nương tựa nữa ?
12- Không phải nhân củi
mà có lửa, cũng không phải không do củi
mà có lửa ; không phải nhân lửa mà
có củi, cũng không phải không do lửa mà
có củi.
13- Lửa đã không đến từ một nơi khác nó, trong
lửa cũng không có lửa, củi cũng như thế, tất cả đều giống như chuyện Ðến và Ði
trong chương II.
14- Củi chính nó không phải là lửa, nhưng tách
rời củi thì không có lửa. Lửa không có trong củi, củi cũng không có trong lửa,
trong củi cũng không có lửa.
15- Lấy củi và lửa để
nói về thọ và người cảm thọ, ngoài ra, cũng để
nói về các pháp, như cái bình gốm,
cái áo... vân vân.
16- Nếu ai đó nói rằng có thật ngã và các pháp
đều có tướng sai biệt, thì nên biết rằng, những người như thế chưa nếm được pháp
vị của Phật.
Chương
XI
Quán Sát Về Biên Tế
(gổm 8 bài tụng)
1- Ðức Thế Tôn đã nói rằng : Không thể nào tìm
được cái biên giới căn bản tối sơ, vì dòng sinh tử đã không có sự bắt đầu, cũng
không có sự kết thúc.
2- Nếu không có sự bắt đầu và kết thúc, thì
khoảng giữa của bắt đầu và kết thúc làm sao có được ; vì thế, khoảng giữa đó,
trước và sau đều không có.
3- Nếu bảo rằng, trước có
sinh thành, sau mới già nua và tử biệt, vậy
không có già, chết mà có sinh,
không sinh mà có già, chết thì sao ?
4- Nếu bảo rằng, trước có sự
lão tử, rổi sau mới có sự sinh ra, như thế là trở
thành vô nhân, không có sự sinh
mà lại có lão tử.
5- Ba loại sinh, lão và tử không thể cùng có một
lúc, nếu khi có sinh lại vừa có tử, vậy cả hai đều không có nguyên nhân.
6- Nếu bảo trước và sau là một thứ, điều đó
không thể được, thế tại sao lại hí luận là có sinh, lão, tử ?
7- Tất cả pháp nhân-quả, tướng trạng và biểu
hiện, cảm thọ và người cảm thọ v.v..., là tất cả các pháp vậy.
8- Không chỉ có ở sinh tử mới không tìm được
biên tế bỗn sơ, mà ở tất cả các pháp, biên tế bỗn sơ đều không có.
Chương
XII
Quán Sát về Khổ Ðau
(gổm 10 bài
tụng)
1- Nếu quan niệm rằng, khỗ đau là do chính mình
tự tạo, hoặc do những điều kiện khác tạo, hoặc do cả hai, hoặc không do nguyên
nhân nào hết, những quan niệm như thế thì không đúng với kết quả của sự khỗ
đau.
2- Nếu khỗ đau là do chính mình tự tạo, thì nó
không phải được sinh ra từ duyên, do thân năm uẩn này mà nó sinh ra năm uẩn
kia.
3- Nếu cho rằng, năm uẩn này khác với năm uẩn
kia, thế thì nên nói rằng khỗ đau được sinh ra từ các uẩn khác.
4- Nếu khỗ đau là do con người tự tạo, thì lìa
các khỗ uẩn đâu có con người mà nói là khỗ do mình hay do kẻ khác tạo ra
?
5- Nếu khỗ đau là do người khác tạo, làm liên
lụy đến người này, vậy khi xa lìa khỗ uẩn, thì đâu có con người nào lãnh thọ
?
6- Nếu khỗ đau là do người khác tạo, làm liên
lụy đến người này, vậy khi xa lìa các khỗ, thì đâu có con người nào tạo khỗ cho
kẻ khác.
7- Tự mình gây khỗ đau đã không được, làm sao mà
bị kẻ khác tạo khỗ đau ; và nếu người khác tạo ra khỗ đau, thì nó cũng được gọi
là tự tạo.
8- Không thể bảo rằng, khỗ
đau là tự tạo, vì lẽ, pháp chính nó
cũng không thể tự tạo ; như thế, khỗ đau vốn không
có tự tính, thì không thể tạo mọi sự khỗ đau.
9- Nếu khỗ đau được hình
thành do tự và tha, có nghĩa là
chúng cùng tạo ; tự và tha còn không
thể tạo tác, huống chi là không có
nhân mà tự tác thành.
10- Không những nói về khỗ đau qua bốn nghĩa
không thật như trên, mà tất cả sự vật hiện tượng, cũng không thể hình thành từ
bốn ý nghĩa đó.
Chương
XIII
Quán Sát về các Hành
(gổm 9 bài tụng)
1- Như trong kinh, Ðức Phật đã dạy, sự chấp thủ
vào các trần cảnh là ảo hóa không thật ; cũng vậy, do hành động chấp thủ mà gọi
là hư dối.
2- Kẻ mê lầm, vọng chấp
các pháp, là hư dối, trong đó không
có cái gì đáng để chấp cả. Ðức Phật
nói lên điều này là nhằm để biểu thị
tính Không.
3- Các pháp
luôn biến động, cho nên biết chúng là
vô tính, và cái mà gọi là
vô tính đó cũng không có, vì
tất cả pháp đều là không.
4- Các pháp nếu không có tự tính, làm sao đứa
bé, từ mới sinh cho đến lúc già, có những sự sai khác ?
5- Các pháp nếu thật
có tự tính, sao lại có sự sai khác nhau ;
nhưng nếu nó không có tự tính, sao lại
có hình thái sai biệt ?
6- Tất cả pháp không
có sai biệt, pháp sai biệt, cũng không có
sai biệt, như trẻ không thể biến thành già,
và già không thể biến thành trẻ.
7- Nếu thật tính của
các pháp là sự biến đỗi, thì lẽ ra, sữa
cũng chính là bơ, nhưng khi tách sữa ra,
thì làm gì có cái khác để
làm bơ.
8- Nếu cho rằng có một
pháp Hữu, thì lẽ ra, cũng có một pháp
Vô, nhưng thực tế đã không có cái
gì là Hữu, thì làm sao lại có
cái Vô ?
9- Ðức Phật dạy rằng : Không là để viễn ly các
kiến chấp, nhưng nếu lại chấp rằng có cái Không, Phật đã không dạy như
vậy.
Chương
XIV
Quán Sát Về sự Hòa Hợp
(gổm 8 bài
tụng)
1- Người thấy, cái thấy,
và vật được thấy, cả ba thứ có vị trí khác
nhau, như thế ba thể này đều khác nhau, hoàn
toàn không có thời gian nào hòa hợp.
2- Tính cấu nhiễm, vật cấu nhiễm và người cấu
nhiễm cũng giống như thế, bao nhiêu căn trần phiền não đều cùng một lý như
vậy.
3- Các pháp nếu
có thể hòa hợp cùng nhau, thì thấy
và nghe v.v... không khác nhau ; vì sự sai
khác đã bất thành, cho nên thấy và
nghe v.v... làm sao hòa hợp được.
4- Không những có đối tượng của cái thấy v.v...,
không thể tìm được sự sai biệt của nó, mà cho đến tất cả pháp đều không thể tìm
thấy được sự sai biệt.
5- Sở dĩ có sai biệt
là do nhân sai biệt, sai biệt mà tách rời
khỏi sự sai biệt thì không còn là sai biệt.
Nếu pháp đã từ nhân sinh, thì không
khác với nhân.
6- Nếu ngoài sai biệt vẫn có cái sai biệt, thì
lẽ ra ngoài sự sai biệt vẫn có sự sai biệt ; nhưng, khi tách rời khỏi cái sai
biệt, thì không còn sai biệt ; vì thế, nên không có sai biệt.
7- Trong sự sai biệt không
có tướng sai biệt ; và, trong không sai biệt cũng
thế ; vì không có tướng sai biệt, nên
không có cái này khác cái kia.
8- Pháp tự nó không có sự hòa hợp, pháp sai biệt
cũng không có sự hòa hợp ; cả ba thứ : thời gian hòa hợp, pháp hòa hợp và chủ
thể hòa hợp đều không có.
~oOo~
Trung Luận
Quyển Thứ Ba
Chương XV
Quán Sát về Hư
Vô
(gổm 11
bài tụng)
1- Nếu cho rằng, trong các
duyên có tự tính, đó là điều sai lầm.
Tự tính mà sinh ra từ các duyên, thì
nó là pháp hữu vi, sinh diệt.
2- Làm sao mà
có nghĩa rằng, tự tính là cái được tạo
thành ? Tự tính nó không do duyên sinh
ra, cũng không do cái khác mà hình
thành.
3- Pháp, nếu không
có tự tính, làm sao có tha tính ;
và nếu tự tính mà đối lại với tha tính,
thì nó cũng là tha tính.
4- Nếu lìa tự tính và tha tính, thì làm sao pháp
có thể hình thành ; các pháp chỉ hình thành, khi có tự và tha.
5- Hữu đã không hình thành, thì làm sao có vô ;
do đó pháp, khi hữu bị hoại diệt, thì gọi nó là vô.
6- Nếu có ai chấp rằng, có hữu và vô, có tự tính
và tha tính, thì kẻ đó, không thấy được nghĩa chân thật của pháp.
7- Ðức Phật diệt cả hữu và vô, như trong kinh
nói : Phật dạy Ca Chiên Diên nên xa lìa kiến chấp về hữu và vô.
8- Nếu các pháp thật có tự tính, thì trước và
sau đều không biến đỗi ; nếu có sự biến đỗi, đó không phải là thật tính.
9- Nếu các pháp thật
có tự tính, thế tại sao lại còn biến đỗi ;
và nếu chúng thật không có tự tính,
cũng không thể có sự biến đỗi.
10- Quyết định có là chấp thường, quyết định
không là chấp đoạn ; vì thế, bậc thức giả không nên chấp vào sự có và
không.
11- Nếu chấp các pháp
là có định tính, không phải không,
đó là chấp thường, trước đã có bây
giờ lại không, như thế là đoạn diệt.
Chương
XVI
Quán Sát Về sự Trói Buộc Và Giải
Thoát
(gổm
10 bài tụng)
1- Nếu cho rằng các hành là sự đến đi, qua lại,
thì trong cái thường hằng không có sự đến, đi. Trong vô thường cũng không có sự
đến đi, tất cả chúng sanh đều như vậy.
2- Nếu cho rằng, chúng sanh
có đến đi trong năm uẩn, các xứ và giới,
thì dầu có tìm tận cùng, năm uẩn
không có ; vậy, ai là kẻ đến, đi ?
3- Từ thân này qua thân khác, như thế qua lại là
không có thân ; nếu trước kia không có thân, thì cũng không có sự qua
lại.
4- Các hành nếu đoạn diệt hết, điều này không
hoàn toàn như vậy ; và nếu mọi chúng sinh hoại diệt, thì điều này cũng không
đúng.
5- Sự sinh diệt của các
hành, không trói buộc cũng không giải
thoát, và chúng sinh, như đã trình
bày, không trói buộc cũng không giải
thoát.
6- Nếu thân này
là trói buộc, vậy sinh thân thì không
bị trói buộc ; không có thân cũng không
bị trói buộc, vậy ở đâu là nơi trói buộc ?
7- Nếu cho rằng sự trói buộc có trước đối tượng
của nó, thì lẽ ra, đối tượng của sự trói buộc ấy đã bị trói buộc. Thật trước
không có cái trói buộc, như đã trình bày trong phẩm Khứ lai.
8- Bị trói buộc thì
không có sự giải thoát, không bị trói
buộc thì không cần giải thoát, có
trói buộc là có cởi mở, như thế mở và
trói là cùng thời !
9- Nếu nói rằng, không chấp thọ các pháp, thì
chính ta sẽ chứng Niết bàn, nếu mà nói như thế, lại bị sự chấp thọ trói
buộc.
10- Không phải lìa sinh tử mà có cảnh giới Niết
bàn riêng biệt ; nghĩa thật tướng như thế, làm gì có sự phân biệt ?
Chương
XVII
Quán sát về Nghiệp
(gổm 33 bài tụng)
1- Nếu người có thể hàng phục tâm, làm lợi ích
cho chúng sinh thì đó gọi là hành động từ thiện, gieo trổng quả báo cho hai
đời.
2- Ðức Phật nói có hai thứ nghiệp : tư sinh và
nghiệp sinh ra từ tư sinh, do nghiệp tướng sai khác mà nói thành nhiều
loại.
3- Ðức Phật nói tư nghiệp là chỉ cho ý nghiệp,
còn các nghiệp từ tư sinh tức là nghiệp của thân và miệng.
4- Thân nghiệp và khẩu nghiệp, tác và vô tác
nghiệp, trong bốn loại như thế, vừa thiện vừa bất thiện.
5- Từ thọ dụng sinh ra phước đức,
cũng từ đó mà sinh ra tội lôỵi, từ ý nghiệp
có bảy nghiệp khác phát sinh, có thể
phân biệt rõ tướng trạng của nghiệp.
6- Nếu nghiệp tổn tại mãi
cho đến khi thọ quả báo, thì nghiệp đó là
thường hằng. Và nếu nghiệp không tổn tại, tức là
không có nghiệp, không có nghiệp thì
làm sao sinh khởi quả báo ?
7- Cũng như sự tương tục của mầm non..., nó được
sinh ra từ hạt giống, từ đó mà kết thành quả, nếu tách hạt giống ra, thì không
có sự tương tục.
8- Từ hạt giống mà có sự tương tục, từ sự tương
tục mà có quả, hạt giống có trước rổi sau mới có quả, nó không đoạn diệt, cũng
không thường hằng.
9- Như thế, từ sơ tâm
phát khởi, các tâm pháp tiếp tục phát
sinh, từ đó mà sinh ra quả báo, nếu lìa
tâm thì không có sự tương tục.
10- Từ tâm mà
có sự tương tục, từ sự tương tục nên có quả
báo, hạt giống nghiệp có trước rổi quả báo
có sau, nó không phải là đoạn diệt, cũng
không phải là thường hằng.
11- Ðược kết thành quả báo tốt đẹp, là do mười
nghiệp lành trong sạch, đời này và đời sau, hưởng năm sự an lạc, đều từ nghiệp
lành này.
12- Nếu các người phân biệt như thế, là rơi vào
lôỵi lớn ; nói như các người, là không đúng nghĩa vậy.
13- Nay cần nói thêm
một lần đúng như nghĩa của nghiệp và quả báo
mà Ðức Phật và các Phật Bích Chi,
cùng chư hiền thánh Tăng đều tán dương.
14- Pháp không mất
giống như giấy chứng khoán, và nghiệp thì giống
như số tài sản thiếu nợ, tánh của nó là
vô ký, phân biệt có bốn loại.
15- Không thể đoạn trừ nghiệp, bằng hình thức
thấy đạo ; chỉ có thể đoạn trừ nghiệp, bằng sự hành đạo. Nhờ vào pháp không mất
đó, mà nghiệp dẫn đến quả báo.
16- Nếu thấy đạo mà có thể đoạn trừ, nghiệp vẫn
đến tương tự, như thế là vướng mắc vào lôỵi lầm đả phá các nghiệp.
17- Tất cả nghiệp dầu giống hay là khác, đều
thuộc về cảnh giới vừa thọ thân ; bấy giờ quả báo một mình sinh khởi.
18- Như thế hai loại nghiệp, đời này thọ quả
báo, hoặc nói là đã thọ xong, nhưng nghiệp vẫn tổn tại.
19- Nếu chứng quả xong rổi mới diệt hết nghiệp,
hoặc sau khi chết mới diệt hết nghiệp, ở đây nên phân biệt rõ nghiệp hữu lậu và
nghiệp vô lậu.
20- Dầu là không, cũng không phải đoạn diệt ;
dầu là có, cũng không phải thường hằng, nghiệp và quả báo không bao giờ biến
mất, đó chính là lời Phật dạy.
21- Các nghiệp vốn không sinh, vì không có định
tính ; các nghiệp vốn không diệt, vì nó vốn không sinh.
22- Nếu nghiệp có tự tính, chắc chắn nó thường
hằng, không tạo tác cũng gọi là nghiệp, vì đã thường hằng nên không thể tạo
tác.
23- Nếu có cái nghiệp không hề được tạo ra, và
dù không tạo ra nghiệp, nhưng vẫn có tội, như thế thì không cắt đứt đời sống
thanh tịnh nhưng vẫn chịu lôỵi bất tịnh.
24- Nếu như phá hủy mọi phép tắc, ngôn ngữ thế
gian ; thì tạo tội hay tạo phước đều không khác nhau.
25- Nếu cho rằng nghiệp là
pháp quyết định, có nghĩa là nó có
tự tính, và như thế, khi đã lãnh thọ quả
báo xong, lại tiếp tục lãnh thọ.
26- Nếu các nghiệp thế gian đều từ phiền não mà
sinh ra, nhưng do phiền não không phải thật có, vậy thì nghiệp làm sao có thật
?
27- Các phiền não và nghiệp báo được trình bày
như là điều kiện - nhân duyên của thân mạng ; và, bản chất của các nghiệp, phiền
não là không, huống hổ là thân mạng.
28- Do bị che lấp bởi vô minh, và ái dục ràng
buộc, nhưng, tác giả, tác nghiệp và thọ giả không đổng nhất, cũng không sai
khác.
29- Nghiệp không phải từ duyên sinh, cũng không
phải từ phi duyên sinh, cho nên nó không có, vậy từ đâu sinh khởi ?
30- Không nghiệp, không
tác giả, thì làm sao có cái nghiệp
sinh ra quả báo ? Và nếu không có quả
báo thì làm sao có kẻ phải gánh chịu
quả báo ?
31- Tựa hổ như thần thông của Phật, biến hóa
thành thân người, thân người được biến hóa đó, lại biến hóa ra người nữa.
32- Người biến hóa đầu tiên, gọi đó là tác giả ;
người được biến hóa ra, gọi đó là tác nghiệp.
33- Các phiền não và nghiệp, tác giả và quả báo,
đều như huyễn hóa, mộng mị, như khói lửa, tiếng vang.
Chương
XVIII
Quán Sát Về Ngã Và Pháp
(gổm 12 bài
tụng)
1- Nếu ngã là do năm uẩn hình thành, thì nó
thuộc về pháp sinh diệt ; nếu ngã khác biệt với năm uẩn, thì nó không phải là
tướng năm uẩn.
2- Nếu không có
cái gọi là ngã, thì làm sao
có những thuộc tính của ngã. Vì diệt trừ
cái ngã và cái thuộc tính của
nó, nên gọi là chứng đắc trí tuệ vô
ngã.
3- Người chứng đắc trí tuệ vô ngã, nên gọi đó là
người thật quán. Người chứng đắc trí tuệ này là người rất hy hữu.
4- Ngoài nhân
ngã và các thuộc tính của nó bị tận
diệt, thì không có một pháp nào
khác, các sự cảm thọ cũng đều diệt, thọ diệt thì
thân này cũng diệt.
5- Khi các nghiệp và
phiền não tận diệt, gọi đó là hoàn
toàn giải thoát, vì nghiệp và phiền
não là không và nhân ngã cũng
không, thể nhập vào thực tại tính Không,
thì mọi hí luận đều bị tận diệt.
6- Chư Phật khi thì
nói có ngã, khi thì nói vô
ngã, thật tướng của các pháp thì
không phải là ngã, cũng không phải là
vô ngã.
7- Thật tướng của các pháp thì không liên hệ gì
đến ngôn ngữ và tâm hành, không sinh cũng không diệt, như tịch tĩnh của Niết bàn
vô thượng.
8- Tất cả pháp thật là không thật, cũng thật mà
cũng không thật, không phải thật cũng không phải không thật, đó chính là lời
Phật dạy.
9- Tự thể nghiệm và tự
mình biết lấy, không tùy thuộc vào kẻ
khác, tịch diệt không hí luận, không thấy
khác mà cũng không phân biệt, đó
chính là chân thật tướng.
10- Nếu pháp sinh ra từ
nhân duyên, thì nó không phải là
đổng với nhân và cũng không phải là
khác nhân ; đó là chân thật tướng,
không phải đoạn cũng không phải thường.
11- Không phải đổng, cũng không phải khác, không
phải đoạn, cũng không phải thường, đó chính là chư Phật - Thế Tôn rưới cam lổ
giáo hóa chúng sinh.
12- Nếu Ðức Phật không
xuất hiện trong thế gian này, và Phật pháp
đã tận diệt, thì trí tuệ của các vị
Bích Chi sẽ từ viễn ly mà sinh khởi tuệ giác
vô thượng.
Chương
XIX
Quán Sát Về Thời Gian
(gổm 6 bài
tụng)
1- Nếu cho rằng nhân thời quá khứ mà có hiện tại
và vị lai, vậy hai thời hiện tại và vị lai, lẽ ra phải ở trong quá khứ.
2- Nếu cho rằng trong thời quá khứ, không có
hiện tại và vị lai, thì hiện tại và vị lai, tại sao nhân thời quá khứ mà có
?
3- Nếu không phải nhân thời quá khứ, thì không
có vị lai, cũng không có hiện tại ; như thế, thì không có hai thời.
4- Căn cứ vào ý nghĩa trên, mà biết rằng tất cả
hai thời ; thượng, trung và hạ ; một và khác... vân vân, tất cả pháp đều là
không.
5- Thời gian đứng yên thật
không có, thời gian đi cũng thật không có ;
thời gian nếu thật không có, làm sao nói
là có tướng thời gian ?
6- Nhân sự thể mà có thời gian, lìa sự thể không
còn thời gian ; sự thể còn không phải là thật có, huống chi là thật có thời
gian.
Chương
XX
Quán Sát Về Nhân Quả
(gổm 24 bài tụng)
1- Nếu cho rằng, do nhân duyên hòa hợp mà quả
sinh ra, thì trong hòa hợp đã sẵn có quả, tại sao gọi là nó sinh ra ?
2- Quả do các điều kiện - nhân duyên sinh ra,
nhưng nếu trong các điều kiện - nhân duyên không có quả, tại sao lại nói các
duyên hòa hợp sinh ra quả ?
3- Nếu cho rằng trong các
duyên hòa hợp đã có quả, thì trong
các duyên hòa hợp đó, lẽ ra phải có
đủ các quả, thực tế điều này không thể có.
4- Nếu quả không có trong các nhân duyên hòa
hợp, thì như thế, quả có thể được sinh ra từ những cái không phải là nhân duyên
của chính nó.
5- Nếu nhân đưa đến quả, xong rổi nó biến mất,
như thế sẽ có hai nhân : một là tác nhân, hai là diệt nhân.
6- Nếu nhân không cùng với quả, làm xong chức
năng của nó rổi biến mất, sau đó quả mới xuất hiện, như thế quả đó không có
nhân.
7- Nếu nhân duyên hòa hợp rổi sinh ra quả, như
vậy cái sinh và cái được sinh đổng thời mà có.
8- Nếu quả trước đã
có, sau do các nhân duyên hòa hợp
mà sinh, như thế quả đó không có nhân,
nó nằm ngoài cái nhân duyên.
9- Nếu nhân biến thành quả, nghĩa là nhân đi đến
quả ; vậy, nhân trước đã có, giờ lại sinh thêm một lần nữa.
10- Làm sao mà nhân đã diệt rổi, lại có thể sinh
ra quả, và nếu nhân không biến mất nơi quả, làm sao gọi là nhân sinh quả
?
11- Nếu trong nhân đã sẵn có quả, thì sinh ra
quả nào nữa ? Nhân thấy quả hay không thấy, trong cả hai trường hợp, nhân không
sinh ra quả.
12- Nếu trong nhân quá khứ có quả của quá khứ,
như thế, quả vị lai và quả hiện tại, chúng sẽ không bao giờ hợp nhau.
13- Nếu trong nhân vị lai có quả của vị lai, như
thế, quả hiện tại và quả quá khứ, chúng sẽ không bao giờ hợp nhau.
14- Nếu trong nhân hiện tại có quả của hiện tại,
như thế, quả vị lai và quả quá khứ, chúng sẽ không bao giờ hợp nhau.
15- Nếu không hòa hợp, nhân làm sao sinh quả ;
nếu hòa hợp, nhân làm sao sinh quả ?
16- Nếu trong nhân là trống không, nhân làm sao
sinh quả ? Nếu không trống rôỵng, nhân làm sao sinh quả ?
17- Quả, nếu không trống
rôỵng, thì không thể sinh ; quả không trống
rôỵng, thì không thể diệt ; vì quả
không trống rôỵng thì không diệt ; và
vì quả không trống rôỵng nên bất sinh, bất
diệt.
18- Quả trống rôỵng nên bất sinh ; quả trống
rôỵng nên bất diệt ; và vì nó trống rôỵng, nên bất sinh, bất diệt.
19- Nếu nhân quả là đổng thể, điều này không
đúng ; nếu nhân quả là sai biệt, điều này cũng không đúng.
20- Nếu nhân quả là
đổng thể, thì cái sinh và cái được sinh
là một ; nếu nhân quả là sai biệt, thì
có nhân duyên và không có
nhân duyên cũng là một.
21- Nếu quả, quyết định là
có tự tính, thì nhân sinh ra cái
gì ? Nếu quả, quyết định là không có tự
tính, thì nhân sinh ra cái gì ?
22- Nếu quả, quyết định là
vô tính, nhân sẽ sinh ra cái gì ?
Và nếu nhân không sinh ra quả, thì sẽ
không có nhân tướng. Nếu không có
nhân tướng, thì tương quan với cái gì
mà gọi là quả ?
23- Nếu do các nhân
duyên hòa hợp, mà có sự hòa hợp,
mà chính sự hòa hợp sẽ không có
nhân thể ; nhân thể không có, làm sao
sinh ra quả ?
24- Vì thế, quả không
sinh ra từ sự hòa hợp hay là không hòa hợp
của các điều kiện nhân duyên ; vậy, sự hòa
hợp xuất hiện ở đâu ?
Chương
XXI
Quán Sát Sự sinh Thành Và Hoại
diệt
(gổm
20 bài tụng)
1- Tách rời sự thành và cộng thành, không có sự
hoại diệt ; tách rời sự diệt và cộng diệt, cũng không có sự sinh thành.
2- Quả thật, nếu không có sự sinh thành, thì làm
sao có sự hoại diệt ; cũng như không có sinh mà có tử, điều đó không
đúng.
3- Nếu thành và hoại
cùng có mặt, thì làm sao vừa thành
và vừa hoại cùng một lúc, như nói sinh
và tử thế gian đổng thời có, là không
đúng.
4- Nếu thật không có
tướng hoại diệt, thì làm sao có tướng sinh
thành ; vì, chưa từng có sự vô thường
nào không nằm trong các pháp.
5- Thành và hoại
cùng có đã không thành, lìa
thành và hoại cũng không thành, cả hai thứ
đều không đúng, làm thế nào mà
nói là có tướng thành ?
6- Trong tận cùng tìm không được tướng thành,
trong bất tận cùng cũng tìm không được tướng thành ; trong tận cùng không tìm
thấy tướng hoại, và trong vô cùng cũng không tìm thấy tướng hoại.
7- Nếu cho rằng lìa xa
thành hoại, thì cũng không có pháp
nào cả ; nếu hiện không có pháp nào,
thì cũng không có thành hoại ở đây.
8- Nếu tự tính của
các pháp là không, thì do đâu
mà nói có thành, hoại ; nếu tự tính
của các pháp cũng không phải là không,
thì cũng không có thành và hoại.
9- Thành và hoại, nếu là một cũng không đúng ;
thành và hoại, nếu là hai cũng không đúng.
10- Nếu cho rằng, do nơi mắt trông thấy mà biết
có sự sinh diệt, đó là kẻ cuổng si, nói thấy các pháp có sinh diệt.
11- Pháp tự nó không thể sinh ra pháp, cũng
không thể sinh ra phi pháp ; từ phi pháp cũng vậy, nó không thể tự sinh ra nó và
sinh ra các pháp.
12- Pháp không thể do
tự sinh, cũng không phải từ nơi khác sinh, cũng
không phải do tự và tha sinh, làm sao mà
nói là có sinh ?
13- Nếu chấp thủ đối với các pháp, là rơi vào
đoạn kiến và thường kiến ; nên biết rằng các pháp được cảm thọ là thường hay vô
thường.
14- Ði vào sự cảm thọ đối với các pháp mà không
rơi vào đoạn hay thường, là vì do nhân và quả tương tục, nên không đoạn cũng
không thường.
15- Nếu nhân và quả có sự sinh khởi và hoại diệt
tương tục, thế thì nhân chính khi đã đoạn diệt rổi làm sao có thể tái sinh
?
16- Nếu tính của các
pháp là thường trụ, thì lẽ ra không
nên nói đến hữu và vô ; Niết bàn, diệt
tương tục, tức là rơi vào chấp đoạn.
17- Nếu ban đầu đã có
sự hoại diệt, thì sao không có sự sinh hữu,
và nếu lúc ban đầu đã có sự sinh hữu
và không bị hoại diệt, thì cũng không
có sự sinh hữu sau đó.
18- Nếu lúc đầu có sự hoại diệt, mà về sau vẫn
có sự sinh khởi, vậy có một cái đang diệt và một cái đang sinh.
19- Nếu sinh và diệt mà xảy ra cùng lúc, thì
chẳng khác nào nói rằng thân năm uẩn này chết ngay khi nó đang sinh.
20- Không thể nào
tìm thấy sự tương tục trong suốt ba đời, nếu sự tương tục
không có trong ba đời thì làm thế nào
mà nói là có tương tục
~oOo~
Trung Luận
Quyển Thứ IV
Chương XXII
Qu&a