|
|
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VÀ TRIẾT HỌC TÁNH KHÔNG
Thích Tâm Thiện
~oOo~
Chương VIII
Chú Giải Các
Thuật Ngữ Trong Trung Luận
Phần chú giải này
được tập trung vào một số điểm cơ bản như được đề cập trong nội
dung của Trung luận, đặc biệt là những thuật ngữ mang
tính cách chuyên môn. Về cách
trình bày, sẽ không đi theo trật tự phân
chương như nguyên bản, vì để tránh sự lặp lại. Mục
đích của phần chú giải này là nhằm
giúp độc giả tham chiếu khi nghiên cứu Trung luận ; do
đó, nội dung chú giải sẽ được giới thiệu ngay nơi
các tiểu mục, và được đánh số theo thứ tự La
Mã ở đầu dòng. Khi cần tra cứu, độc giả chỉ lần
tìm các tiểu mục.
I.- Tứ cú và Bát
bất
Tứ cú và Bát bất là điểm trung tâm của tất cả
luận đề triết học của Trung luận. Từ đó mà nó triển khai thành các hệ thống luận
lý phê bình như được gọi là phép phủ định biện chứng.
* Tứ cú : 1- Hữu, 2- Vô, 3- Diệc hữu diệc vô, 4-
Phi hữu phi vô (có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có cũng chẳng phải
không).
* Bát bất : 1- Không sinh, 2- Không diệt, 3-
Không thường, 4- Không đoạn, 5- Không giống, 6- Không khác, 7- Không đến, 8-
Không đi.
Có thể nói, Tứ cú và Bát bất là sự tóm lược tất
cả quan niệm và tư tưởng triết học Ấn Ðộ thời bấy giờ, và nếu xa hơn là ngay cả
thời Ðức Phật còn sinh tiền. Phần lớn các hệ thống tư tưởng triết học đó đều rơi
vào các kiến chấp như : hữu, vô, sinh, diệt, thường, hằng v.v... trong quá trình
thiết lập một thế giới quan độc lập. Ở đây, trên góc độ lịch sử-tư tưởng, có thể
nói đến hai giai đoạn : Veda và hậu Veda. Ở giai đoạn đầu, con người tôn vinh về
một đấng sáng tạo đầy quyền năng như Thượng đế, Brahman... và các giải kiến
triết học được đúc kết trong những chương thánh ca nói về cội nguổn của vũ trụ
và thế giới, con người theo một thể cách mầu nhiệm được đặt trên căn bản của
niềm tin tuyệt đối vào một đấng quyền năng vô hình, bất khả tri. Ở giai đoạn
sau, tức hậu Veda, các quan niệm triết học được khai phóng khỏi tư duy huyền
học, bấy giờ các đạo sư Bà La Môn trở lại giải minh các quan niệm về cái "ngã"
vốn được xem là bất tử. Nó đi từ một con người sinh thể (naramaya) đến con người
vật lý (annamaya) - sinh ra từ bào thai, rổi đến con người sinh lý (pranamnaya),
con người tâm lý (manomaya) và sau cùng là con người siêu thức (vijnànamaya). Sự
phát triển như thế mãi cho đến thời đại của Lục sư là kết thúc giai đoạn hậu
Veda. Dù trong thời Ðức Phật, học thuyết của sáu trường phái (Lục sư) này rất
nỗi tiếng, đại biểu của sáu trường phái này là Pùrana Kassapa, Makkhali Gosala,
Ajita Kesa-Kambala, Pakudha Kaccàyana, Sanjaya Belathaputta và Nigantha
Nataputta (84).
Kinh Sa Môn Quả (Trường Bộ kinh) và một số kinh
khác đã xếp loại những tư tưởng Ấn, được xem là những kiến chấp sai lầm về chân
lý thực tại như sau :
* Các loại tà kiến thuộc về
quá khứ :
- Thuyết thường hằng - Thuyết vừa thường hằng vừa đoạn diệt - Thuyết hữu biên - Thuyết vô biên - Thuyết trườn uốn như con lươn - Thuyết ngẫu nhiên
* Các loại tà kiến thuộc về
tương lai :
- Hữu tưởng luận sau khi chết - Vô tưởng luận sau khi chết - Phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết
- Hư vô luận
* Các loại tà kiến thuộc về
hiện tại :
- Thuyết Niết bàn tại thế và hiện thế
Thời Ðức Phật còn tại
thế, Ngài đã phê bình những quan điểm
này (85). Tuy nhiên, đến sau khi Phật nhập diệt,
vào thời kỳ phân hóa các bộ phái Phật
giáo, thì một số kiến chấp tương tự như trên
phát sinh, và đặc biệt là nó phát
sinh ngay trong lòng các bộ phái Phật giáo
(xem Chương II và III). Từ đó, cơ sở phê
bình của Trung luận được tập trung vào các kiến
chấp cơ bản như : hữu, vô, sinh, diệt, thường, đoạn, đổng, dị,
khứ, lai...
Về ý nghĩa của các
chủ thuyết trên, có thể tỉ dụ như : chấp đoạn diệt. Chủ
trương cho rằng con người sống là nhờ bốn yếu tố : đất, nước,
gió, lửa. Khi chết, bốn yếu tố (đại) này tan rã,
thì căn và thức trở về hư vô. Con người chấm dứt
sau khi chết. Ðây là học thuyết "Hư vô luận" của
Ajita Kesa-Kambala. Hoặc như chủ trương rằng có một nhân
thể (pudagala) bất tử nối kết vòng luân hổi của
chúng sanh cho đến khi đạt đến Niết bàn. Ðây
là chủ thuyết của (Vàtsiputriyà). Hoặc như sự
tranh luận về Tính Không, do xem Tính Không
như một đối tượng của nhận thức, mà chủ trương của phái
Sautrantika cho rằng cái "có" thì thấy "có"
; cái "không" thì thấy "không" ; còn
Sarvàsivàda thì cho rằng, cái "có"
thì có thấy, cái "không" thì
không thấy... Những quan điểm như trên đều được Long Thọ
xếp vào "kiến chấp sai lầm".
II.- Nhân
duyên
Nhân duyên, trong Phật
học được quan niệm như sau : Nhân (hetu) là nguyên
nhân chính để sinh ra quả, như hạt cam sinh ra quả cam.
Và trong suốt tiến trình đó, tức từ nhân đến
quả, còn các yếu tố trung gian xen vào. Yếu tố phụ
thuộc đó được gọi là duyên (paccaya). Trong tiếng
Pàli, nhân chính được gọi là "hetu",
"samudaya", các nhân tố phụ thuộc được gọi là
"paccaya", "nidàna". Như thế, một nhân muốn đưa đến kết
quả còn phải phụ thuộc vào các nhân tố
khác, gọi chung là các điều kiện nhân
duyên. Và tất nhiên, trong môỵi yếu tố
khác nhau thì đều có các đặc tính
khác nhau. Tỉ dụ như khi trổng cây, người ta phải
có đủ nước, phân, hạt giống, dưỡng khí, đất... Do
đó, một nhân không thể sinh ra một quả, mà
phải hội đủ các điều kiện cơ bản. Các điều kiện cơ bản
này gọi chung là nhân duyên. Ở đây, con
người cũng được xem là sự hiện hữu của nhân duyên.
Trong nhân duyên thường
có hai tính cách cơ bản, đó là năng
duyên và sở duyên. Năng duyên là khả
năng sinh khởi từ chính nó, còn sở duyên
là những hiện tượng, tác dụng được sinh khởi từ năng
duyên.
Trong phân tích của
Trung luận, nhân duyên được nhìn rõ qua hai
khía cạnh, đó là tự tính và tha
tính. Tự tính (svatah) chỉ cho nhân, tha
tính (paratah) chỉ cho duyên. Và như đã
nói, tự tính của môỵi thứ nhân và
duyên đều khác nhau, như đất, nước, phân, hạt giống,
quả v.v... Và môỵi thứ riêng lẻ như thế không
thể sinh ra một quả. Vì nếu quả là đổng tính với
nhân, thì nhân với quả là một, đâu cần
đến các duyên ? Nếu quả và nhân là
khác nhau, thì cần gì đến nhân mới sinh ra
quả ; và nếu như thế thì lửa có thể sinh ra từ
nước, và nước có thể sinh ra từ lửa. Còn nếu quả
tự nhiên có (ahetu) thì đâu cần đến sự
hòa hợp của nhân duyên. Ðây là
cách lý luậạn đi sâu vào bản chất của Trung
luận (xem phần khảo sát về nhân duyên).
III.- Phi duyên và tự
tính
Nếu duyên là
các điều kiện góp phần làm cho quả được sinh khởi,
thì phi duyên là sự vượt ra ngoài các
điều kiện nhân duyên, hay còn gọi là vô
điều kiện. Hễ bên này là nhân duyên
thì đối lập của nó là phi nhân duyên.
Thực ra, đây chỉ là một lối diễn đạt song quan, đối lập
trong nguyên tắc của trật tự luận lý mà thôi.
Phi duyên ở đây, nó không nhằm chỉ đến một vấn
đề triết lý nào cả.
Tự tính (svabhava) là
thuật ngữ diễn đạt về một bản chất cá biệt, đặc thù của
các pháp. Theo quan niệm tự nhiên, môỵi sự
vật hiện tượng đều mang theo trong nó một tính chất
cá biệt, đặc thù nào đó, làm cho
nó trở thành hoàn toàn khác với
những cái khác nó. Tỉ dụ như cá biệt
tính của lửa thì nóng, của nước thì lạnh
v.v... Song, vì kiến chấp rằng tự tính là một
thuộc tính cố hữu và vĩnh hằng nên con người rơi
vào các cực đoan, sai lầm. Tự tính, nếu được
nhìn dưới đôi mắt nhân duyên thì
nó trở thành vô tự tính. Tất cả hiện tượng
sự vật đều do nhân duyên hợp thành, như hydro cộng
với oxy tạo thành nước. Và cái mà gọi
là nước thì không vĩnh hằng vì nó
biến chuyển không ngừng tùy vào các
nhân duyên, môi trường, hoàn cảnh v.v..., như
mây, hơi, mưa, nước, khí, sương v.v...
IV.- Sáu tình
thức
Sáu tình thức như
được đề cập trong Trung luận, bao gổm : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý thức. Khi sáu căn này tiếp xúc
với sáu trần cảnh : hình sắc, âm thanh, hương
khí, mùi vị, xúc chạm, pháp trần thì
phát sinh ra sáu thức ; như mắt tiếp xúc với sắc
thì phát sinh sự hiểu biết về sắc. Như vậy sự thấy, sự
nghe, sự ngửi, sự nếm, sự va chạm, và sự tiếp xúc với
pháp trần trong trạng thái nhận thức và cảm thọ,
gọi là sáu tình thức, hay còn gọi là
sự tri giác của sáu quan năng. Riêng về sắc,
đây là một khái niệm rộng, bao gổm biểu sắc
và vô biểu sắc. Biểu sắc là tất cả những gì
được hình thành từ bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa,
hay nói chung là tất cả sự vật hiện tượng trong thế giới
sai biệt đa thù từ cỏ cây hoa lá cho đến sông
suối núi đổi, con vật, con người v.v... ; và vô
biểu sắc là hình thái của năng lượng vô
hình. Tỉ dụ như khi dùng sức đẩy cái xe chạy, sức
mạnh đó tiềm ẩn trong con người, nó là vô
hình, không biểu hiện trong hình thái, nhưng
biểu hiện trong tác dụng (cái xe chạy).
V.- Bốn thủ
Bốn phiền não làm tăng trưởng tà kiến hay tăng
trưởng sự hiểu biết sai lầm, gổm :
1- Dục thủ : Lòng tham chấp và say đắm đối với
ngũ trần như sắc, thanh, hương, vị, xúc...
2- Kiến thủ : Sự cố chấp vào quan điểm sai lầm
của mình.
3- Giới cấm thủ : Sự cố chấp vào những giới điều
phi lý, những hình thức cuổng tín, cực đoan.
4- Ngã ngử thủ : Ngôn ngữ của kẻ tà kiến chấp
vào các loại ngã kiến như thường hằng, đoạn diệt v.v...
Do làm tăng trưởng hiểu biết sai lầm nên bốn
phiền não này là chướng ngại lớn trên đường tu tập.
VI.- Năm uẩn
(skandha)
Lối dịch cũ là ấm, chúng, kiền độ..., tức là năm
tỗ hợp cấu thành nên con người, gổm : sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
1- Sắc : Là vật chất,
năng lượng, hình thể v.v... như thân thể con người.
2- Thọ : Bao gổm ba
thọ : * Khỗ thọ (sự cảm thọ bất an, khỗ đau, buổn phiền...). * Lạc thọ (sự cảm
thọ vui sướng, hạnh phúc, thoải mái...). * Phi khỗ phi lạc thọ (trung tính -
không khỗ và không lạc).
3- Tưởng : Ảnh tượng
của tri giác, sự mơ tưởng đến các hình ảnh trong tâm thức.
4- Hành : Các cấu
trúc và hoạt động của tâm lý.
5- Thức
: Sự tri giác, nhận biết. Tri giác luôn luôn
có mặt ở hiện tại, nó không có ở quá
khứ và tương lai.
Năm uẩn là sự hình
thành nên con người và thế giới, nó
là pháp duyên sinh nên biểu hiện của
nó là vô thường. Sự cố chấp, bám víu
vào năm uẩn gọi là năm thủ uẩn, đó cũng là
nguyên nhân của khỗ đau, vì từ chấp thủ mà
sinh ra tham ái, từ ái đưa đến hữu (hiện hữu, sinh,
tái sinh...), từ hữu đưa đến sinh thành, già nua,
tử biệt, sầu, bi, khỗ, ưu, não...
VII.- Sáu đại (lục
chủng)
Sáu đại là sáu yếu tố cơ bản để hình thành nên
tất cả hiện tượng sự vật trong thế giới thực tại khách quan, bao gổm : đất,
nước, gió, lửa, hư không và tâm thức. Theo tư tưởng Hoa Nghiêm thì bao gổm thêm
thời gian và phương hướng, nói chung là Bát đại (8 yếu tố).
1- Ðịa : Ðất hay các khoáng chất.
2- Thủy : Nước khoáng thiên nhiên, nước trong
sự vận hành của con người, động vật, thực vật. 3- Hỏa : Lửa, nhiệt độ. 4- Phong : Gió, không khí. 5- Không : Không gian, hư không. 6- Thời : Thời gian - quá khứ, hiện tại, vị lai.
7- Phương : Bốn phương : Ðông, Tây, Nam, Bắc +
bốn hướng phụ : Ðông Nam, Tây Nam, Ðông Bắc, Tây Bắc. 8- Thức : Tâm thức, ý thức.
Trong tám đại này, biểu hiện của nó vừa là vật
thể như đất, nước, gió, lửa ; và vừa phi vật thể như không gian, thời gian,
phương hướng và tâm thức. Cũng từ tám yếu tố này mà hiện khởi nên thế giới sum
la vạn tượng với muôn ngàn khác biệt.
VIII.- Tác giả và tác
nghiệp
Tác giả là người tạo
ra nghiệp, và tác nghiệp là nghiệp được tạo ra bởi
tác giả. Ðức Phật dạy : "Con người là chủ nhân
của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng,
là quyến thuộc, mà từ đó con người được sinh ra".
Như vậy, nếu căn cứ theo ba thời nhân quả-nghiệp báo,
thì con người hiện tại là kết quả của tất cả nghiệp
(thiện và bất thiện) từ vô lượng kiếp quá khứ ;
và tương lai của con người như thế nào là
tùy thuộc vào hành động và tư duy của con
người ngày hôm nay. Nhân quả-nghiệp báo của
môỵi con người được xem như là một thứ trái
khoán mà một ngày nào đó nó
phải được trả lại cho trái chủ - tức con người chính
nó. Tác giả và tác nghiệp thường luôn
luôn đi đôi với nhau.
IX.- Ðịnh nghiệp và bất định
nghiệp
Ðịnh nghiệp là sự ỗn
định và thống nhất trong tiến trình tương quan nhân
quả, tỉ dụ như cây cam chỉ sinh ra quả cam. Ở đây, trong
suốt thời gian từ gieo nhân cho đến khi gặt hái kết quả
luôn luôn có một sự thống nhất. Ngược lại, bất định
nghiệp là sự không ỗn định và không thống
nhất trong tương quan nhân quả. Ở đây, vì có
các duyên trung gian can thiệp mạnh vào tiến
trình tương quan nhân quả và làm cho
nó biến chuyển từ hình thức đến nội dung. Tỉ dụ, lẽ ra
cây cam chỉ sinh ra quả cam, nhưng khi cây cam vừa trưởng
thành, người ta đem ghép cây chanh và
thân cây cam ; nên khi sinh quả, thay vì quả
cam, nó sinh ra quả chanh. Như thế, nhân là
cây cam, nhưng quả lại là quả chanh, đây gọi
là bất định nghiệp.
X.- Hữu vi và vô
vi
Hữu vi là pháp sinh
diệt, như con người có sinh, lão, bệnh, tử. Tất cả
pháp hữu vi đều phải chịu sự chi phối của định luật vô
thường. Trong thế gian này, mọi đối tượng của tri thức thường
nghiệm đều là pháp hữu vi, vô thường, sinh diệt.
Ngược lại, là pháp vô vi. Vô vi là
pháp vượt ra ngoài các điều kiện nhân
duyên, không chịu sự chi phối của định luật vô
thường. Thực ra, vì có cái để gọi là hữu
vi, nên cũng có cái gọi là vô vi,
nó xuất hiện như là một đối thể theo nhu cầu của tri
thức. Vô vi, tự thân nó là bất khả thuyết.
Trong đời thường, có thể đem hư không làm ví
dụ cho pháp vô vi, vì không ai có thể
nắm bắt được nó, đo lường được nó, hay biết gì về
sự sinh diệt của nó v.v... Hư không được xem như một loại
vô vi pháp.
XI.- Tướng và vô
tướng
Tướng là sự biểu hiện của
các pháp qua các hình thái đặc
thù, như con người, con vật, cái nhà, cái
cây, con sông, hòn đá... Ngược lại là
vô tướng, như tâm thức, sự hiểu biết, tư duy, cảm thọ,
yêu thương... Tướng và vô tướng đều là
pháp sinh diệt. Tuy nhiên, đối với pháp vô
tướng, sự sinh diệt có thể cách riêng của
nó, như sự sinh khởi và mất đi của một ý niệm chỉ
diễn ra trong chớp nhoáng (sát na). Ở trường hợp
khác, như hư không cũng được xem là pháp
vô tướng, nhưng cái vô tướng của hư không
thuộc về hư không-vô vi. Tất nhiên, trong trường hợp
như thế, nó không phải là pháp vô
thường, sinh diệt.
XII.- Vô
thường
Vô thường là sự thay
đỗi, chuyển biến không ngừng, như sự trôi chảy của
dòng sông không bao giờ dừng lại. Tất cả sự vật hiện
tượng, từ tâm lý đến vật lý, đều luôn
luôn trôi chảy. Tuy nhiên, do tính cách
giới hạn của tri thức, mà vô thường được nhận diện theo
thời gian, nghĩa là một sự thể được gọi là vô
thường khi nó trải qua các giai đoạn sinh thành
(sinh), đứng yên (trụ), biến chuyển (dị) và hủy diệt
(diệt) ; hoặc là thành (sinh thành), trụ (đứng
yên), hoại (biến chuyển) và không (hủy diệt). Thực
ra, sự đứng yên (trụ) chỉ có ý nghĩa tương đối khi
nó là đối tượng của tri thức giản đơn. Còn trong
lĩnh vực hiện quán (sát na tâm) thì
không có sự đứng yên nào cả. Tất cả
pháp đều luôn luôn không ngừng trôi
chảy, như sự trôi chảy của dòng sông. Như thế,
vô thường là nguyên lý của thực tại,
dù là thực tại ảo hay là thực tại chân thật.
Trong ý nghĩa vô thường, các nhà Ðại
thừa thường đề cập đến một khái niệm đối lập là
chân thường. Thực ra, khái niệm này chỉ có
thể đề cập trên một bình diện cao hơn của nhận thức,
và nó không thể được xem là đối tượng của
nhận thức.
XIII.- Vô sở
trụ
Là sự không đình trú, không đứng yên ở bất kỳ
một nơi nào cả. Vô sở trụ có thể được ví dụ như mây trôi bổng bềnh trên bầu
trời, nó không có một điểm tựa nào hết. Khái niệm vô sở trụ chỉ được xét đến
trong quan điểm của giải thoát luận, chỉ cho sự tự do đến và đi trong "ba nghìn
thế giới".
XIV.- Bản trụ
Là một danh từ đặc biệt của
Trung luận dùng để chỉ cho cái được gọi là thần
ngã, linh hổn, nhân thể v.v..., đại khái là
như vậy, mà trong bản dịch được dịch là cội
nguổn-nhân tính. Thực ra, chữ "bản trụ" ở đây
không giống như ý nghĩa "uyển trụ" của Hoa Nghiêm,
hay "ưng vô sở trụ" của Kim Cang - Bát Nhã.
Trái lại, Trung luận nói rõ bản trụ là kẻ
sở hữu của các cảm thọ (vui, buổn, khỗ, lạc...). Như thế,
trên mặt tương đối, bản trụ là thọ giả, là người
cảm thọ các nghiệp báo. Nhưng, trên bình
diện tuyệt đối thì không có cái bản trụ
nào hết, vì tất cả đều là pháp duyên
sinh, vô thường. Do đó, khái niệm này cần
được hiểu là một sự định danh theo quan niệm thế tục, vậy
thôi.
XV.- Tam tế
Tế là biên tế trước
sau mà tiếng Phạn gọi là
pùrvàpara-koti-parĩksa. Tam tế là ba ranh giới
phân biệt như khởi thủy, hiện hành và chung cuộc,
hay đằng trước, ở giữa và đằng sau. Ðây là một
khái niệm được dùng chỉ cho sự không thể phân
định về thời gian và không gian. Thông thường, con
người quan niệm rằng có sự khởi thủy và có sự kết
cuộc trong dòng sinh thức, cho dù đó là
dòng sinh thức đang trầm luân. Nhưng trái lại,
Ðức Phật dạy dòng sinh thức ấy là vô thủy
(không có khởi đầu) và vô chung (không
có kết thúc). Tất cả đều đang vận hành, như
là sự vận hành của thế giới thực tại. Ðó
là một sự vận hành luân lưu bất tuyệt mà tri
thức của con người sẽ không bao giờ đạt đến, trừ phi nó
chấm dứt toàn bộ cơ cấu điều động trong thế giới đối lập
và tương quan của căn, trần và thức. Vì thế, trong
sự trôi chảy của dòng thực tại, không có
cái gọi là quá khứ, hiện tại, vị lai, đằng trước,
ở giữa, đằng sau v.v... Sự phân định về biên của cả
không gian và thời gian là điều được sinh khởi
trong ý niệm. Nó chỉ có trong ý niệm, chứ
không có trong thực tại. Vả lại, không gian
và thời gian bản chất của nó vốn không có tự
tính và không có thực thể. Do đó, mọi
ý niệm về nó đều mang tính chất công ước.
XVI.- Tư và sở
tác
Tư là ý nghiệp,
có thể xem là tương đương với một trong năm tâm sở
biến hành trong Duy thức (xúc, tác ý, thọ,
tưởng, tư). Nhưng tư, được Phật dạy rõ là ý
nghiệp, và từ ý nghiệp mà phát sinh ra
thân nghiệp và khẩu nghiệp, gọi chung là ba nghiệp
- thân, khẩu, ý. Sở tác, là nghiệp được
phát sinh từ ý nghiệp mà Trung luận nói
là "tư cập tùng tư sinh". Như thế, tư là cội nguổn
và sở tác là những biểu hiện được phát sinh
từ cội nguổn đó. Ở đây, Trung luận trình bày
tư nghiệp qua bảy loại, đó là :
1- Thân nghiệp : tất cả nghiệp được phát sinh từ
thân. 2- Khẩu nghiệp : nghiệp được phát
sinh từ miệng. 3- Tác nghiệp : là hành
động tạo tác, tác thành nghiệp. 4- Vô
tác nghiệp : là hành động duy tác, không đưa đến quả báo (không có sanh
y). 5- Thiện nghiệp : nghiệp lành, như
tu tập mười thiện nghiệp, không sát sinh, không trộm cướp... 6- Bất thiện nghiệp : nghiệp không lành, có khả năng đưa
đến tội lôỵi, ác báo. 7- Tư nghiệp : ý
nghiệp.
XVII.- Chủng
tử
Chủng tử là các hạt giống ý niệm nằm yên trong
chiều sâu của tâm thức, như hạt giống của cỏ, hoa nằm yên trong lòng đất. Chủng
tử có ba loại, đó là :
1- Chủng tử bản hữu :
là các hạt giống vốn có từ vô thủy, như Phật
tính chẳng hạn. Dù có trôi lăn liên
hổi trong lục đạo, nhưng cái hạt giống Phật đó
không bao giờ mất, nó sinh phát khởi khi có
thuận duyên.
2- Chủng tử tân huân
: nếu bản hữu là cái vốn có, thì tân
huân là cái mới được gieo vào tàng
thức (alaya), như học nói, khả năng nói là chủng
tử bản hữu, còn nói cái gì và
nói như thế nào là tân huân. Cũng như,
tất cả mọi người đều biết nói, nếu sinh ra ở Mỹ và được
học tiếng Mỹ thì biết nói tiếng Mỹ ; sinh ở Mỹ nhưng được
học tiếng Việt thì biết nói tiếng Việt v.v... Như thế,
chủng tử tân huân là cái mà
chúng ta ghi nhận được từ trong giao tiếp hàng
ngày với thế giới thực tại khách quan, trong đó
có cá nhân, gia đình, học đường và
xã hội.
3- Chủng tử hiện hành
: là các hạt giống ý niệm sinh khởi qua sự đối lưu từ chủng tử (trong tàng thức)
sang ý niệm (trong hiện hành).
Như vậy, cái mà gọi
là nghiệp (thiện hay bất thiện) là những gì được
sinh khởi từ các chủng tử, tập khí, tân huân
và huân tập.
XVIII.- Vô ký và vô
lậu
Vô ký là bản
tính thụ động của tâm, đặc biệt là trong ý
nghĩa của tàng thức (alaya). Vô ký có thể
được ví dụ như là bản chất của nước, nó
không phải thiện cũng không phải ác. Tuy
nhiên, dựa trên căn bản của nước mà sóng
gió ba đào nỗi dậy. Sóng gió lao xao, vọng
động dụ cho tính năng sinh diệt của tâm, hay nói
khác đi, đó là những biểu hiện của tâm, như
sóng là biểu hiện của nước, vậy thôi.
Vô lậu có thể được xem
là đổng nghĩa với vô vi, đó là pháp
không sinh diệt, không chịu sự chi phối của vô
thường. Tuy nhiên, trong các kinh văn thường nói
đến nghiệp hữu lậu và vô lậu. Nghiệp hữu lậu là
nghiệp đưa đến quả báo nhất định ; và để nói đến
một cái gì đó không còn chịu sự chi
phối của nhân quả-nghiệp báo, nghĩa là cái
hoàn toàn khác biệt với nghiệp hữu lậu, nên
gọi là vô lậu. Do đó, nên hiểu rằng, vô
lậu là một tên gọi ước lệ mà thôi, vì
tự thân nó đã vượt lên trên mọi đối
đãi, phân biệt, thoát ly ngoài ý niệm
về thiện, ác, hữu, vô. Vô lậu là giải
thoát. Trong một số trường hợp, khi nói đến nghiệp
vô lậu là nói đến một bình diện khác,
phi tương quan, cũng như tham sân si là nghiệp bất thiện,
còn tự thân của không tham, không sân,
không si đã là thanh tịnh giải thoát rổi ;
không cần thiết phải gọi đó là cái nghiệp
vô lậu hay nghiệp giải thoát. Sở dĩ điều đó được
nói ra là nói trong tương quan, hễ bên
này hữu thì bên kia vô ; còn khi đạt
đến giải thoát rổi thì hữu hay vô không
có giá trị gì hết, và cũng không cần
thiết phải nói đến nữa.
XIX.- Các hoặc
Hoặc là phiền não nghiệp chướng như tâm tham,
tâm sân, tâm si. Trung luận, khi giải thích về nghiệp (karma) có đề cập đến bốn
loại nghiệp (phiền não) cơ bản là :
1- Kiến hoặc
: dùng cái nhìn mê lầm phân biệt để
quán sát chân lý, và từ đó
sinh ra các kiến chấp như : chấp ngã, chấp có,
chấp không...
2- Tư hoặc : dùng
tình thức của tham sân si mà quán sát thế gian.
Theo quan điểm của Duy thức, kiến hoặc bao gổm
các chướng ngại của phiền não (phiền não chướng) và sự kiến chấp mê lầm (sở tri
chướng) do ý thức phân biệt sinh khởi ; tư hoặc bao gổm các chướng ngại của
phiền não và kiến chấp sai lầm do cộng duyên (câu sinh) sinh khởi. Khi tu tập,
nếu dứt bỏ kiến hoặc thì gọi là kiến đạo ; sau khi kiến đạo, rổi dứt bỏ tư hoặc
thì gọi là tu đạo ; khi đoạn trừ sạch cả kiến hoặc và tư hoặc thì gọi là vô học
đạo. Tông Thiên Thai chia các hoặc thành ba loại :
1- Kiến hoặc và tư hoặc (gọi chung là kiến tư) :
là chướng ngại của sự đạt đến Niết bàn.
2- Trần sa hoặc : là chướng ngại của sự phát
triển tâm Bổ đề (Vô thượng Chánh giác tâm).
3- Vô minh hoặc : là chướng ngại của chân lý
Trung đạo.
Danh từ gọi chung cho các
loại chướng ngại trên là "phiền não lậu hoặc". Nếu
không tiêu diệt các chướng ngại này,
thì không thể đạt đến "ngộ" ; vì phiền não
là vật cản, như tảng băng làm ngưng đọng sự trôi
chảy của dòng nước, làm cho dòng tâm thức
ngưng đọng và tán loạn...
XX.- Ngã và ngã sở
hữu
Ngã là cái
tôi, cái ta ; ngã sở hữu là cái của
tôi, cái của ta. Ðây là hai chướng ngại
lớn nhất làm cản trở sự hướng đến giác ngộ ; và
cũng từ đây mà sinh khởi mọi tội lôỵi, mọi khỗ đau,
mọi sợ hãi, mọi bất an... Sự chấp vào cái
tôi và cái của tôi đó được gọi
là chấp thủ, nó cũng là một loại "kiến thủ" của si
mê, vọng tưởng. Bao lâu con người còn chấp
vào nó là còn khỗ đau, còn sinh,
lão, bệnh, tử. Vượt ra mọi sự chấp thủ là đạt đến
vô ngã, Niết bàn. Do chấp thủ vào tự
ngã mà con người trôi lăn trong sinh tử luân
hổi.
XXI.- Tà kiến
Là những kiến chấp sai lầm như đã được trình
bày. Tuy nhiên, theo Trung luận, có hai loại cơ bản, đó là :
1- Tà kiến : chấp thường, vô thường, phi thường
phi vô thường...
2- Biên kiến : hữu biên, vô biên, phi hữu biên
phi vô biên...
XXII.- Pháp
Pháp (dharma) là một danh từ bao quát và có rất
nhiều ý nghĩa. Theo hệ thống Luận tạng của cả Nam tạng và Bắc tạng, pháp được
chia thành hai loại cơ bản là : tâm pháp và sắc pháp.
Tâm pháp thuộc về các hiện tượng, diễn biến của
tâm lý nói chung. Sắc pháp thuộc về các hiện tượng sự vật trong thế giới thực
tại khách quan - thuộc vật lý.
Pháp lại được chia thành hai loại cơ bản là tác
năng (năng) và tác dụng (sở) hay là biểu hiện. Tỉ dụ, sóng là biểu hiện của
nước, và nước có khả năng tạo ra sóng v.v..., hay lửa là biểu hiện của củi khi
được đốt, và củi luôn có khả năng tạo ra lửa v.v...
Pháp lại được chia
thành hai phạm trù là hữu vi và vô
vi. Pháp hữu vi thì sinh diệt liên hổi, còn
pháp vô vi thì bất sinh, bất diệt.
Trên bình diện khác, pháp được xem như là phương
pháp, nguyên lý, quy tắc, quy phạm, cách thức, định lý v.v... Trên cơ sở của ý
nghĩa này, pháp được chia thành hai loại là : thiện pháp và bất thiện
pháp.
Thiện pháp luôn
luôn có ý nghĩa tích cực như học
hành, tu tập, lương thiện, đạo đức, luân lý, kỷ
luật, không tham lam, không sân hận, không si
mê v.v... Bất thiện pháp, trái lại, luôn
luôn mang ý nghĩa tiêu cực, như làm điều xấu
ác, trộm cướp, giết người, nói xấu, suy nghĩ xấu v.v...
Trên bình diện
chân lý, pháp được chia thành hai loại
là chân đế và tục đế. Ðây là
khái niệm của Mã Minh, và về sau thì Long
Thọ phát triển ; tuy nhiên, chính Ðức Phật
là người đầu tiên dạy về chân đế và tục đế
qua ý nghĩa Trung đạo thời Nguyên thủy. Ðó
là sự xa rời hai cực đoan : khỗ hạnh ép xác
và lạc thú xác thân. Ðây cũng
là ý nghĩa phương tiện và cứu cánh,
dùng phương tiện để đạt đến cứu cánh.
Về ý nghĩa, chân đế là chân lý của người giác
ngộ ; tục đế là chân lý của người còn vô minh.
Pháp, theo kinh Lăng Già, lại được chia thành
năm loại cơ bản là :
1- Danh : tên gọi lâm thời. 2- Tướng : hình thể lâm thời. 3- Phân biệt : phân ly các dữ kiện thuộc vật lý và tâm
lý. 4- Chính trí : vô phân biệt trí,
Phật trí, vô ngã trí... 5- Như như :
Niết bàn, vô sinh.
Và cuối cùng, pháp tối thượng là Niết bàn. Pháp
này là bất khả thuyết, chỉ có môỵi người tự thể nghiệm lấy, tự mình chứng ngộ
cho chính mình.
XXIII.- Như
Lai
Như Lai là một trong mười danh hiệu do hàng đệ
tử Phật tôn xưng Ðức Phật, một con người đã giác ngộ trọn vẹn, đã độ giác chúng
sinh và thực hiện trọn vẹn hạnh nguyện của người giác ngộ.
Về đặc tính, Như Lai có mười năng lực mà không
ai có :
1- Biết rõ các xứ và phi xứ. 2- Biết rõ nhân duyên nghiệp báo của ba đời (quá khứ,
hiện tại và vị lai). 3- Biết rõ con
đường đưa đến các sinh thú. 4- Biết rõ
mọi thế giới và sự sai biệt cụ thể của chúng. 5- Biết rõ sự hiểu biết của các loài hữu tình.
6- Biết rõ tâm tính sai biệt của tất cả chúng
sinh. 7- Biết rõ các pháp tịnh, bất tịnh
; ra vào các thiền chứng về thiền, về giải thoát và về định. 8- Như Lai chứng Túc mệnh minh. 9- Như Lai chứng Thiên nhãn minh (nhìn rõ suốt "ba nghìn
thế giới"). 10- Lậu tận minh (đoạn trừ
tất cả nghiệp chướng phiền não).
(Xem kinh Tam Minh, kinh Hòa Dụ, Trung Bộ III ;
kinh Xuất Gia - Ðại II.246b. Ðại II.446a - Hán tạng ; Tăng Chi Bộ kinh V, phẩm
10 Pháp...).
Như Lai còn được định nghĩa như sau :
- "Này các Tỳ kheo,
từ đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh
giác, đến đêm Như Lai nhập Vô dư y Niết bàn,
trong thời gian ấy, điều gì Như Lai nói, tuyên bố
đều là sự thật, tất cả là như vậy, không có
khác được. Do vậy, được gọi là Như Lai".
- "Này các Tỳ kheo,
Như Lai nói sao làm vậy, làm sao nói vậy, ;
vì rằng, nói sao làm vậy, làm sao
nói vậy, nên được gọi là Như Lai".
- "Trong toàn thể thế giới..., Như Lai là bậc
chiến thắng, không bị chiến bại, bậc toàn tri, toàn kiến, đại tự tại ; do vậy,
được gọi là Như Lai".
(Xem Tiểu Bộ kinh, "Phật thuyết như vậy", Tạp
đại II.224c, Trung 137, Ðại I.645b - Hán tạng...).
Sang các kinh Ðại thừa như Kim Cang, Bát Nhã,
định nghĩa về Như Lai như sau :
"Vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như
Lai" (Không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai)...
Hoặc gián tiếp nói về Như Lai :
"Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị
nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai" (Nếu lấy sắc để nhìn ta, lấy âm thanh
để cầu ta, đó là kẻ hành tà đạo, chẳng thể thấy Như Lai)...
Như Lai trong Trung luận được xem như là Bản thể
vô sinh - Như Lai và thế gian không hề có tự tính ; Như Lai và thế gian không
hai, không khác (Như Lai sở hữu tánh, tức thị thế gian tánh, Như Lai vô hữu
tánh, thế gian diệc vô tánh) - (TL.94, chương XXII, tr.31, No.1564,
ÐCTT/ÐTK).
XXIV.- Bốn Thánh
đế
Ðây là pháp
thoại đầu tiên được Ðức Phật chuyển pháp luân
hóa độ năm anh em Tôn giả Kiều Trần Như tại vườn Nai. Nội
dung Bốn Thánh đế (Bốn chân lý) bao gổm : khỗ đau,
nguyên nhân của khỗ đau, sự chấm dứt khỗ đau và con
đường đưa đến sự chấm dứt khỗ đau. Về mặt cấu trúc, Tứ
Thánh đế được trình bày theo nguyên
lý tương quan nhân quả : khỗ đau là quả ; sự đưa
đến khỗ đau là nhân ; sự chấm dứt khỗ đau là quả ;
và con đường đưa đến sự chấm dứt khỗ đau là nhân. Ở
đây, do pháp được nhìn từ "sự thật" một cách
trực quan, sinh động, rổi từ đó đi vào thực
tại-Tính Không, nên bố cục của nó được khởi
đầu bằng mọi hệ quả tất yếu, như là những nguyên lý
phỗ quát. Hẳn chúng ta cũng biết rằng, khi trình
bày như thế, Phật đã vạch ra hai con đường song quan
rõ rệt trong vị trí đối lập, như là sự hiển thị
của hai chân lý : chân đế và tục đế,
chân như và tục lụy. Song, những gì được nói
ra ở đây, theo cái nhìn của Phật, là
nói cho chúng sinh, những kẻ đang lang thang trong
cõi trầm luân vô định. Do đó, nếu chấp rằng
đây là cảnh giới tối hậu tuyệt đối của Phật là điều
sai lầm lớn. Ngay cả cái mà gọi là Diệt đế hay
Niết bàn, thực chất chỉ là giả danh, vì tên
gọi đó hoàn toàn bất lực trong việc định nghĩa về
Niết bàn. Cái gọi là Niết bàn thì
không phải là Niết bàn thực thụ, cũng như danh từ
nhà thì không phải là cái nhà.
Bởi lẽ, danh từ nhà là một khái niệm heo hắt,
và chỉ có một và chỉ một duy nhất mà
thôi. Trong khi đó, nhà thật sự thì
có muôn hình vạn trạng, thiên sai vạn biệt,
vạn tượng sum la... Và trong môỵi cái nhà
như thế, chẳng có cái nhà nào giống
cái nhà nào hết. Từ đó, nên biết rằng
pháp được Phật nói ra luôn luôn là
những dấu chỉ, biểu tượng nhằm dẫn dắt chúng sinh đi ra khỏi khỗ
đau mà thôi. Vì thế, Trung luận không ngại
miệng khi phủ định một cách sạch trơn về Tứ thánh đế,
nhưng đó là một sự phủ định trong khẳng định, khẳng định
về một cái gì đó bất khả thuyết, mà
không thể nói là ở bên này bờ hay
bên kia bờ. Hễ bao lâu còn ôm giữ lấy
bên này bờ hay bên kia bờ thì vẫn còn
đắm chìm trong lốc chiều mộng ảo.
XXV.- Niết bàn
Niết bàn được diễn dịch bằng nhiều từ đổng nghĩa
như : tịch diệt, diệt độ, giải thoát, vô vi, an lạc... Cách dịch mới là viên
tịch, thị tịch... Niết bàn được chia thành hai loại :
1- Hữu dư y Niết bàn
: cái nhân sinh tử đã được đoạn tuyệt.
2- Vô dư y Niết bàn :
cái quả sinh tử đã được đoạn tuyệt, do vậy, khi lâm chung mới đạt đến Vô dư Niết
bàn.
Theo Tăng Triệu, Niết bàn hay diệt độ là chỉ cho
sự vượt qua cái hoạn nạn lớn và cuối cùng, vượt qua bốn dòng sông, vĩnh viễn
không còn bập bềnh trong biển sinh tử nữa.
Pháp tướng tông nói đến Niết bàn qua các góc độ
:
1- Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn : Niết
bàn là tự tính thanh tịnh tuyệt đối vốn có từ nghìn xưa.
2- Hữu dư y Niết bàn : sự dứt trừ căn để của tất
cả phiền não để cho chân như hiển lộ.
3- Vô dư y Niết bàn : chân như thoát hiện ngoài
tất cả khỗ hải trong sinh tử.
4- Vô trụ xứ Niết bàn : chân như hiển thị cùng
khắp trong tam giới, sinh khởi đại bi tâm, đến đi hóa độ chúng sinh.
Và ở đây, chỉ riêng Ðức Phật là có đầy đủ bốn
tính Niết bàn này.
(Xem Phật học từ điển/Phân viện Nghiên cứu PHVN
- Hà Nội).
XXVI.- Bốn quả
Là bốn địa vị tâm chứng của hàng Thanh Văn, bao
gổm :
1- Tu Ðà Hoàn : còn
gọi là Nhật lưu, Nghịch lưu, Dự lưu, tất cả đều có cùng nghĩa là tham dự vào
dòng Thánh (đi ngược dòng sinh tử), đoạn trừ kiến hoặc. 2- Tư Ðà Hàm : Nhất lai, một
lần nữa trở lại dòng sinh tử, đoạn trừ một phần tư hoặc. 3- A Na Hàm : Bất lai, không
còn trở lại dòng sinh tử nữa. 4- A La Hán : Bất sinh, vĩnh viễn không còn trôi lăn vào sinh
tử vì đã đoạn tuyệt kiến hoặc và tư hoặc, vượt xuất tam giới.
Con đường dẫn vào bốn quả vị trên gọi là tứ
hướng - bốn hướng ; và sự vượt qua bốn quả vị này gọi là vượt dòng (vượt bộc
lưu), gổm có 4 dòng :
1- Dục bộc lưu : vượt qua dòng tham sân si (ở
cõi Dục). 2- Hữu bộc lưu : vượt qua dòng
tham, mạn (ở cõi Sắc và Vô Sắc). 3- Kiến
bộc lưu : vượt qua dòng tà kiến trong ba cõi (Dục, Sắc, Vô Sắc).
4- Vô minh bộc lưu : vượt qua dòng vô minh, đạt
đến cứu cánh Niết bàn.
(Trên đây là phần chú giải đại cương về Trung
luận).
~oOo~
Trang chính
Chương 1
- Tổng Luận
Chương 2
- Thế Giới Quan Phật Giáo
Chương 3
- Sự Ra Đời Của Tánh Không Luận
Chương 4
- Học Thuyết Phân Kỳ Và Hệ Thống Phân Giáo
Chương 5
- Triết Học Tánh Không
Chương 6
- Đại Cương Triết Học Trung Quán
Chương 7
- Bản dịch Việt ngữ Trung Luận
Chương 8
- Chú Giải Các Thuật Ngữ Trong Trung Luận
~oOo~
|