|
|
|
Thông điệp Của Kinh Trái TimThích Tâm Thiện
Lời
dẫn vào Thông điệp
Bạn thân mến, Mười năm trước đây khi viết bức thông điệp của Kinh Trái Tim tôi đã viết với tất cả tấm lòng. Lúc đó tôi tự nói với lòng mình rằng, “công việc này qủa thực là liều lĩnh nhưng đầy hứng thú.” Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ cảm thấy hài lòng với bức thông điệp đó. Tôi cũng chẳng hiểu vì sao? Thế rồi mười năm sau, khi đọc lại bản cũ, tôi cảm thấy mình cần phải quay trở về với công việc này thêm một lần nữa. Và đó là sự ra đời của bức thông điệp mà bạn đang cầm trên tay. Khi viết bức thông điệp này, tôi không mang một ý thức rằng mình đang cắt nghĩa hay giải minh về triết học Bát nhã, mà trái lại, tôi viết từ một cảm xúc mà có lúc muốn bật khóc vì thấm thía cái đẹp tuyệt vời trong lời dạy của Đức Phật. Lời dạy của Ngài đã cứu rỗi tôi, ban cho tôi một sự bình yên nội tại mà không làm sao tôi có thể sánh với cái gì trên thế gian này. Ước mong rằng, qua bức thông điệp này, chúng ta có thể dìu dắt nhau đi qua những đa đoan thế sự để trở về với miền hạnh phúc-thực tại không bản ngã. Khi vui cũng như khi buồn, xin bạn hãy đọc bức thông điệp này để sưởi ấm cõi lòng nhân gian. Hy vọng, nụ cười của bạn sẽ xóa tan đau khổ của sinh linh khắp trong ba nghìn thế giới.
Los Angeles,
Mùa an cư 2007.
Khải
Thiên
Bạn thân mến, Bức thông điệp mà bạn đang cầm trên tay là “một phần tinh hoa” được rút ra từ Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng. Khi nói đến “một phần tinh hoa” tôi muốn nói rằng chúng ta đang chiêm nghiệm cái đẹp siêu việt và toàn bích của Bát nhã trong một chiều kích rất giới hạn của một tâm hồn còn nhiều xao xuyến bởi được, mất, hơn, thua…Tuy nhiên, như ánh sáng của mặt trăng, những ai có mắt đều nhìn thấy được; song cái đẹp của ánh sáng đó như thế nào là tùy thuộc ở mỗi đôi mắt hay nói khác hơn là ở mỗi tâm hồn. Chúng ta, ở đây, đang chia sẻ với nhau về bức thông điệp kỳ vĩ của Bát nhã không phải trên bình diện của lý thuyết mà ngay trong đời sống thực tại. Chắc chắn rằng những ai lĩnh hội được bức thông điệp của Bát nhã, cho dù chỉ là một phần rất nhỏ, sẽ có được một đời sống hạnh phúc và bình an thực thụ, một đời sống “xa rời cuồng si mộng tưởng”, một đời sống tự tại giữa trùng điệp khổ đau. Để có thể đi vào đời sống mầu nhiệm của Bát nhã, trước hết bạn cần phải một lần, hay ít ra là ngay trong giờ phút này, bước vào hành tinh của ánh sáng. Vì lẽ, sinh mệnh của Bát nhã chính là ánh sáng trí tuệ, một thứ ánh sáng vượt lên trên mọi giới hạn của tâm hồn trần thế, hay nói khác hơn đó là ánh sáng trí tuệ (prajñā) ở bên kia bờ (pāramitā). Chính nhờ ánh sáng này mà một “linh hồn” khổ đau có thể được “cứu rỗi”, một đời sống hạnh phúc thực thụ có thể được dựng lập, và trên hết, một tâm thức giác ngộ hy vọng được bừng lên không phải ở đoạn kết của cuộc đời hay ở bên kia thế giới mà ở chính tại mảnh đất này và con người này. Bạn nên nhớ rằng, chúng ta có nhiều loại ánh sáng: ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, ánh sáng của thế giới tự nhiên, ánh sáng sinh học, ánh sáng của khoa học, ánh sáng của tri thức .v.v. Ở đây, ánh sáng trí tuệ bên kia bờ (prajñāpāramitā), gọi tắt là Bát nhã, là một loại ánh sáng tâm linh phi thường, bạn không thể lĩnh hội bằng còn đường lý luận, mà trái lại, bạn chỉ có thể đạt được bằng con đường thể nghiệm và tu tập hằng ngày của chính bản thân. Điều rất quan trọng mà bạn cần phải tỉnh thức ngay bây giờ và ở đây là, đời sống hạnh phúc của thế gian—tình yêu, tiền bạc, danh vọng, địa vị, quyền lực .v.v.— trên thực tế hoàn toàn không có gì được bảo đảm và chắc chắn, bởi vì tất cả đều không ngừng thay đổi theo định luật vô thường. Chỉ một cơn giận hay một sự hiềm tỵ nổi lên trong dòng lưu chuyển của tâm thức, trong tích tắc mọi thứ có thể sẽ hoàn toàn đổi khác; lúc bấy giờ cái mà chúng ta cho là tình yêu, là hạnh phúc… có thể biến thành khổ đau. Vì thế, đời sống hạnh phúc của thế gian sẽ rất bấp bênh nếu như nó không được soi sáng và dắt dẫn bởi ánh sáng của Bát nhã. Vậy đặc tính
ánh sáng của Bát nhã
là gì và nó đến
từ đâu?
Bát nhã, như đã nói, là một loại ánh sáng của trí tuệ mà tự thân nó vượt lên trên mọi định kiến, cố chấp về “hữu, vô, sinh, diệt, thường, đoạn, đồng, dị, khứ, lai”[i]. Do dựa vào bản chất siêu việt mọi định kiến, cố chấp nên Bát nhã được định nghiã là “trí tuệ ở bên kia bờ” (trí tuệ đáo bỉ ngạn), hay còn gọi là “trí tuệ-vô ngã”. Cũng vậy, nhờ vào tính siêu việt này mà Bát nhã luôn cưu mang trong chính nó một khả tính vô bờ. Thử lấy bàn tay làm thí dụ. Khi ta đã cầm chắc một vật nào đó trong tay, thì bàn tay tự nó không còn khả năng cầm thêm một vật khác. Ngược lại, khi ta không cầm nắm hay bám víu (thủ trước) bất kỳ cái gì, lúc bây giờ bàn tay của ta sẽ có một khả năng vô hạn, nghiã là nó có thể cầm bất cứ cái gì nó muốn. Đó chính là ý nghiã và khả tính của sự không bám víu (vô thủ trước). Tương tự như thế, khi một tâm thức không bám víu hay không bị chi phối bởi tham, sân, chấp ngã, hay phiền não, nhiễm ô, lúc bấy giờ, thực tại của tâm sẽ lưu chuyển như một nguồn ánh sáng bao la không giới hạn, và không chướng ngại. Đấy chính là một loại “thần lực” đặc thù của tâm thức không bám víu. Do vậy, ánh sáng siêu việt của Bát nhã được kết thành từ một tâm thức không có định kiến và cố chấp, hay nói khác hơn là một tâm thức xả ly, thanh tịnh. Trên
thực tế, thực tại của
tâm luôn
cưu mang hai dòng năng
lượng: sáng (thiện) và
tối (bất thiện). Dòng
năng lượng
của ánh sáng là tâm
từ bi, tâm yêu thương,
tâm khoang dung, tâm hỷ
xả…và ngược
lại, là dòng năng
lượng tối tăm, tức
là: tham lam, sân hận, thù
oán, cố chấp,
phiền não, và nhiễm ô.
Vì lý do này, Bát nhã
được gọi là hành tinh của ánh
sáng, một hành tinh
không có bất kỳ một
bóng mờ nào
của phân biệt, cố
chấp; một hành tinh của
đời sống xả ly thực
thụ. Và đấy cũng
là lý do tại sao, bạn
được mời gọi ngay
từ đầu hãy một
lần bước vào hành tinh
của
ánh sáng để có
thể lĩnh hội bức thông
điệp hùng vĩ của
Bát nhã ba la mật (prajñāpāramitā). Nói tóm
lại, bạn không cần
thiết phải vướng bận
quá
nhiều vào ngôn từ
để đi vào thể
nghiệm đời sống Bát
nhã; một điều duy nhất
bạn
cần thực hành đó
là hãy sống tự tại
giữa lòng hiện hữu,
sống buông bỏ mọi bám
víu,
cố chấp, nhất là sự
bám víu vào một khát
vọng vĩnh cửu. Vì khát
vọng vĩnh cửu
trên thực tế không gì
khác hơn là hiện thân
của lòng chấp ngã. Nên
nhớ rằng bạn
sẽ không mất cái gì
hết khi thực hành tâm
xả ly, mà trái lại,
chính sự xả ly
hay không bám víu của tâm
sẽ đem lại cho bạn một
đời sống nhẹ nhàng
hơn và an lạc
hơn rất nhiều. Xả ly
chừng nào thì hạnh phúc
chừng đó. Bạn sẽ
là người rất hạnh
phúc khi mọi gánh nặng (sự
bám víu)
trong tâm của chính bạn
được đặt xuống
(xả ly).
Bạn thân
mến, Giữa cuộc
sống với nhiều điều
không như ý, với nhiều
bức bách, bất an, và
thậm chí với nhiều khổ
đau, làm sao bạn có thể
thực hành đời
sống xả ly để nắm
bắt hạnh phúc? Đấy
là câu hỏi của nỗi
niềm thống thiết và là
thách thức lớn nhất
trên con đường tìm
kiếm hạnh phúc của
bạn. Xin hãy đừng lo âu!
Thông điệp của Kinh
Trái Tim sẽ giới thiệu
cho bạn một bước đi
(nguyên lí)
căn bản để bạn
có thể thực tập
đời sống xả ly và
thụ hưởng nguồn hạnh
phúc, an
lạc ngay trong hiện tại của
đời sống, cho dù
đời sống đó là
bất an. Bước đi căn
bản này được
bắt nguồn từ
“đôi mắt tinh
nguyên” mà Người
Tỉnh Thức Bình Yên (Avalokitésvara)
đã thực hành thành
tựu và đã vượt
qua mọi khổ đau. Để thực
tâp bước đi căn
bản này, trước hết
bạn hãy
nỗ lực làm cho đôi
mắt của chính bạn trở
nên long lanh, sáng ngời
để nó có thể
đạt
đến một trạng thái tinh
nguyên; nghiã là, hãy làm
cho con mắt của bạn không
còn
bị giới hạn bởi
“cái bạn đang
là”! “Cái bạn
đang là” là gì?
Đó chính là con
người hiện
tại của bạn, một con
người được
nhận diện qua năm yếu
tố: cơ thể (body), cảm
thọ
(feeling), ảnh tượng của tri
giác (perception), khuynh hướng tư
duy (volitional
action), và ý thức của
các giác quan (consciousnesses). Ở đây,
cái nguyên nhân trực
tiếp làm cho bạn bị
phiền
não, bất an, hay ngăn cản
bạn thụ hưởng nguồn
hạnh phúc sống động
luôn trôi chảy,
trước hết chính là
sự “vẩn đục”
của đôi mắt, hay nói
khác đi là sự bám
víu của đôi
mắt (ngã kiến). Nói một
cách cụ thể, bạn đang
sống với/trong những sự
thật như
vầy: tôi đang bận tâm
với cơ thể của tôi
vì nó đang thay đổi;
những cảm giác này
là cái hoặc là tôi khao
khát hoặc là cái tôi
chán ghét; tôi đang sa
đà hay bị
cuốn hút một cách thụ
động bởi những ảnh
tượng (vui, buồn,
thương, ghét .v.v.)
trong tâm tôi; tôi bị
buộc phải suy nghĩ miên man
không tự chủ về một
qúa khứ
xa xôi hay về một tương
lai mờ ảo; tôi có ý
thức, nhưng ý thức của
tôi bị tán
loạn không ngừng .v.v. Những
sự thật này chính là
những biểu hiện của
sự bám víu
(chấp thủ), nó luôn làm
vẩn đục đôi
mắt của bạn và dĩ
nhiên nó là sức mạnh
vô hình
dồn bạn vào bến bờ
của cả hy vọng và sợ
hãi. Trên thực tế, hy
vọng và sợ hãi là
hai yếu tố thường trực
trong tâm của bạn, nó
hiện diện ngay cả trong chiêm
bao
và mộng mị. Cho đến khi
nào bạn những bám víu
này được buông
xuống, thì đôi mắt
của bạn sẽ trở về
tinh nguyên; nghiã là nó
sẽ nhìn hiện hữu như
là chính nó. Làm
sao cho đôi mắt trở về
tinh nguyên? Như đã
đề cập ngay từ
đầu, bạn cần phải
ít nhất một
lần bước vào hành tinh
của ánh sáng, vì ở
đó không có sự
hiện diện của những
năng
lượng tối tăm, tức
là những tâm thức tham,
sân, kiêu mạn…
Để bước vào
hành tinh
ánh sáng, trên nguyên tắc
không phải là một công
việc khó khăn hay nghiêm
trọng;
vì lẽ, bạn không cần
phải làm thêm cái gì
hết mà chỉ có bỏ
bớt [những bám víu] đi
thôi! Trong một giây phút,
nếu bạn có thể bỏ
đi những bám víu và
để cho dòng tâm
thức của bạn trôi chảy
trong sự tịnh lạc, lập
tức bạn có thể trở
về với đôi mắt
tinh nguyên. Để làm
được điều
đó, bạn nên tư duy
về ba tư tưởng trọng
yếu của
cuộc sống như sau: 1. Bản chất
của cuộc đời là
vô thường, bạn không
thể
biến nó trở thành
thường hằng; do đó
hãy chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu trong
dòng biến dịch-vô ngã
một cách không phản
khán. Hãy thả mình
để lắng nghe từng
nhịp thở của cuộc
sống! 2. Mục
đích của cuộc sống con
người là tìm kiếm
hạnh
phúc, và cao hơn là chân
lý; vậy thì, nếu sự
buông bỏ bám víu vào
“cái tôi”, một
cách nào đó, có
thể sinh khởi nguồn hạnh
phúc cho ta, tại sao không thực
tập sự
buông bỏ để sống
hạnh phúc. 3. Cuộc sống
vốn là một hợp thể
không có thật tính,
và do đó nó luôn bao
hàm cả cái tốt lẫn
cái xấu. Nếu chỉ chấp
nhận cái mình ưa
thích và chạy trốn cái
mình không ưa thích, thế
là mình trở thành kẻ
bị động.
Ngược lại, khi bạn sẵn
sàng chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu như
thế là tự biến
mình thành kẻ chủ
động từ một gã
cuồng si bị động. Sự
thật là, khi nào bạn làm
chủ được mình,
lúc đó bạn sẽ
làm chủ được
thế giới chung quanh mình. Ba tư
tưởng này, trong vô vàn
tư tưởng khác, sẽ
giúp
bạn trước hết là
rửa sạch đôi mắt
của mình và sau đó
tạo dựng cho tâm thức
của
chính mình một sự bình
yên nội tại. Người
Tỉnh Thức Bình Yên, với
đôi mắt tinh
nguyên không vẩn đục,
đã nhìn thấy như
thật rằng bản chất
của cơ thể này, của
cảm
thọ này, của mộng
tưởng này, của tư duy
này, và của ý thức
này là một hợp thể
nhân duyên, có đó
rồi mất đó.
“Cái tôi” thực
chất chỉ là một ý
niệm hão huyền.
Do thấy như vậy mà mọi
phiền não được
rủ sạch, và người
đã vượt thoát
mọi khổ đau.
3. Biển
và Sóng Bạn thân
mến, Để có
thể chấp nhận cả cái
tốt lẫn cái xấu một
cách
tự tại, bạn cần phải
nắm chắc trong tay một nguyên
lí đó là tính
cách “vô phân
biệt” (không hai, không
khác) của Bát nhã. Dĩ
nhiên khái niệm “vô
phân biệt”
được
dùng ở đây không
có nghĩa là “không
biết tốt, xấu”, mà
trên căn bản nó là
một
“thách thức” của
cái tự ngã độc
tôn và vị kỷ. Vì
thế, vấn nạn
được đặt ra ở
đây
là: dẫu biết rằng chân
lý của cuộc sống là
vô thường và bạn
cũng có thể chấp nhận
điều đó một
cách dễ dàng, nhưng từ
trong đáy thẳm của tâm
thức, làm sao bạn có
thể chấp nhận rằng
hạnh phúc không khác với
khổ đau, hay hạnh phúc
và khổ đau là
một (sinh tử tức Niết
bàn), hay như Kinh Trái Tim
nói: “sắc tức là
không,
không tức là sắc”? Hay
nói khác hơn, là một con
người chúng ta khó có
thể dung
hóa hai ý niệm này làm
một. Vì lẽ, theo tập
quán của suy tư, ta luôn cho
rằng hạnh
phúc và khổ đau là hai
yếu tố hoàn toàn trái
ngược nhau, giống như
thiên đường
và địa ngục. Vậy
thì làm sao để lĩnh
hội được ý
nghiã “bất dị”
và “tức thị”
(không
hai, không không khác) này? Chúng ta hãy
lấy một thí dụ về
sóng và nước từ
đại
dương. Trên thực tế,
sóng là biểu hiện của
nước và nước là
bản chất của sóng; sóng
khác nước một
điểm duy nhất đó
là sự biểu hiện
nó—trồi lên lặn
xuống liên hồi
theo chuyển động của
gió—mà thôi. Do
đó, về mặt hiện
tượng, sóng và
nước có vẻ
như hai, tức là sóng khác
với nước, nhưng về
mặt bản thể, sóng và
nước là một,
vì cả hai có cùng một
thể: nước. Đấy
là ý nghiã không hai,
không khác của Bát
nhã. Từ thí dụ này,
bạn có thể thấy rằng
khổ đau và hạnh phúc tuy
khác nhau về
mặt biểu hiện, như sự
khác nhau giữa vui và buồn,
nhưng về mặt bản thể,
cả hai
là một vì chúng
đều phát sinh từ một
dòng tâm thức. Sự thật
là, vui cũng ở tại
tâm mà buồn cũng ở
tại tâm. Khổ đau và
hạnh phúc, cho đến các
phạm trù thuộc cảm
thọ, mộng tưởng .v.v.
cũng đều như vậy. Tại sao bạn
cần thiết phải suy gẫm
về hình ảnh của
sóng và nước? Vì
rằng càng quan sát về nó
bạn càng thấy rõ hơn
về tác dụng của
sự phân biệt, nhất là
khi sự phân biệt đó
nằm trong cơn khao khát của
sự bám víu
cuồng si vào “cái
tôi” và “cái
của tôi”, cũng như
vào thế giới của dục
vọng. Sự
phân biệt dựa trên căn
bản của tự ngã là con
đường dẫn đến
mọi sự bám víu, cố
chấp. Trên thực
tế, nếu cuộc sống của
bạn càng dựa trên
đối
đãi phân biệt chừng
nào thì bạn càng cảm
thấy bất an và căng
thẳng chừng đó. Bạn
có thể, chẳng hạn như,
sẽ thấy rằng những
người chung quanh không tốt
như bạn,
không bằng bạn, hay ở
đẳng cấp khác với
bạn, và do đó bạn
không cảm thấy dễ chịu
để trải lòng ra với
họ. Những cái nhìn như
thế chính là hiện thân
của sự vị kỷ
bắt nguồn từ ý niệm
phân biệt. Khi càng chìm
sâu vào ý niệm phân
biệt, đời sống
của bạn sẽ rơi vào
trạng thái cố thủ; cũng
từ đó, sự nghi ngờ, suy
đoán, và tưởng
tượng không ngừng tuôn
trào trong tâm trí của
bạn và nó sẽ phủ
lấp mọi nguồn ánh
sáng trong thực tại của
tâm. Bạn sẽ trở thành
một con người bận rộn
với những
miên man tư lự, sa đà
với những niệm tưởng
hão huyền chẳng khác nào
một người điên
lâm râm nói nhảm suốt
ngày mà không biết mình
đang nói cái gì. Và
như thế, chính
bạn đã đánh mất
cuộc sống thực thụ
của mình, đồng thời
đánh mất luôn cả
cái khả
năng “sống tự
tại” giữa lòng hiện
hữu của mình. Ngược
lại, bạn sẽ có khả
năng sống
tự tại trong mọi thăng
trầm của cuộc
đời—phong cách của
bậc hành giả—khi nào
mọi
ý niệm phân biệt
nhân-ngã đều
được rủ bỏ. Hơn thế
nữa, như đã đề
cập, mục tiêu của Bát
nhã
khi nói đến nguyên lí
“vô phân biệt”
là nhằm để đánh
thức cái cơ đồ
của bản ngã
cá thể; nó luôn luôn
là một chướng ngại
lớn nhất gây ra mọi
nỗi bất an trong đời
sống tâm thức của bạn.
Nó chia rẻ con người
của bạn theo nhiều cách
khác nhau: được,
mất, hơn, thua, vui, buồn, danh
vọng và không danh vọng.
Nó cũng chính là nỗi
ám
ảnh mà bạn cưu mang canh
cánh trong lòng từ khi biết
cười, biết khóc. Bao
bọc
chung quanh cái bản ngã cá
thể không gì khác hơn
là những khoen xích nhân
duyên
sinh diệt liên hồi mà
bạn cứ ngỡ rằng chúng
là tất cả những gì
bản thể của bạn.
Chính vì thế, ánh sáng
“vô phân biệt”
của Bát nhã là một thanh
kiếm báu khả dĩ
chặt đứt mọi tơ
duyên lằn nhằn của cái
tự ngã độc tôn
để đưa nó về
với nguyên
thể ban đầu—dòng
thực tại vô ngã luân
lưu bất tuyệt. Dòng
thực tại vô ngã này
chính là bản thể của
tâm thức uyên nguyên, hay
nói khác hơn, đấy
là Phật tính.
Vì lí do này, chúng ta
thường nghe cách ngôn
của Bát nhã rằng “quay
đầu là bến”
(hồi đầu thị ngạn). Thật là
một điều thú vị khi
khám phá ra rằng, cuộc
sống thực thụ của
chúng ta không cần đến
một bản ngã cá thể
để hiện hữu, cũng
như “hoa hồng, dẫu bạn
gọi tên nó là gì
đi nữa thì hương
thơm của nó vẫn là
như
thế”. Cuộc sống thực
thụ không cần một danh
tính. Hạnh phúc thực
thụ cũng không
cần một danh tính. Bạn
hãy một lần vô danh tính
để thể nghiệm cuộc
sống đang là. 4. Cõi Mơ
Bạn thân mến,
Từ
đâu ta đến
Chưa
khóc chào đời;
Về
đâu ta sẽ
Khi
nhắm mắt rồi? Vâng, một câu hỏi như thế nghe có vẻ ngây ngô và không liên quan gì đến thực tế của cuộc sống, bây giờ và ở đây. Nhưng chính câu hỏi này sẽ là bàn tay vàng khả dĩ đánh thức bạn và giúp bạn vượt qua những lao đao của mộng tưởng để trở về với thế giới bình yên nội tại vốn chưa từng sinh và chưa từng diệt. Lời mà Kinh Trái Tim muốn nói với bạn đó là: “cái bạn đang là” là một cõi mơ”, vì tất cả không hề có một thực tính nào hết (tất cả hiện hữu được biểu thị là không); hay nói khác đi bạn và thế giới của bạn điều là hiện hữu của tương duyên mà thôi. Ở đây, những gì trong mơ hẵn nhiên đều là phù du, giả tạm. Chúng không hề có thực. Như khi mắt bị nhậm, bạn thấy bông hoa xuất hiện giữa hư không; đến khi mắt hết nhậm, bạn không còn thấy nó nữa. Cũng vậy, cảnh trong mộng tuy là có thực, nhưng chỉ là thực của mộng; khi tỉnh giấc, mọi thứ trong mộng đều tan biến! Bản chất cuộc sống của chúng ta đều là như thế! Hãy lấy một thí dụ. Khi chưa được sinh ra, bạn có tên hay không? Khi được sinh ra rồi, cái tên của bạn có phải là tất cả những gì thuộc về bạn, hay đơn thuần chỉ là một danh tính tạm thời đại diện cho bạn? Đi sâu hơn nữa, con người hiện tại bằng xương bằng thịt của bạn có phải là một bản thể bất biến, hay là nó luôn luôn biến đổi trong từng nhịp thở và nó sẽ bị hủy hoại sau một thời gian nhất định? Con người thực thụ của bạn đã là như thế huống gì là những tạo tác từ thân, miệng, và ý của bạn. Thế thì, “cái bạn đang là”, hay cái mà bạn cho là “cái tôi”, và “cái của tôi” đó há không phải là một cõi mơ ư! Vậy tại sao bạn phải ôm ấp một giấc mơ huyễn hoặc để rồi chơi vơi với những lụy phiền? Suy nghiệm như thế nhằm để thấy rõ rằng: “ Tất cả hiện hữu đều là cõi mơ.” Cho đến những ý niệm về sống, chết, nhiễm ô, trong sạch, thêm, bớt, vân vân đều là những giả định từ mộng tưởng; chúng là hiện thân của sự phân biệt và bám víu từ một tâm thức cuồng si mà thôi. Chỉ khi nào bạn vượt qua thế giới của phân biệt (nhị nguyên) này, thì khi đó bạn sẽ thực thụ bước vào một chân trời mới: hạnh phúc-thực tại, một thế giới mà ngôn ngữ của chúng ta trở nên không còn hiệu lực. Vậy thì làm sao để thức tỉnh từ cõi mơ? Vâng, đó là câu hỏi tha thiết vô cùng mà chúng ta sẽ tự vấn khi một mình đối diện với chính mình. Để tỉnh thức, bạn không cần làm thêm một điều gì hết, việc duy nhất mà bạn cần thực tập đó là hãy nhìn thật lâu và thật sâu vào những gì đang sinh diệt chung quanh ta và trong chính con người của ta, và hãy thấy như thật rằng chúng chỉ là một cõi mơ, vậy thôi. Thực tập lâu ngày như thế bạn sẽ tự tạo cho mình một tâm hồn khoan dung vô hạn; nghĩa là bạn sẽ có khả năng rủ bỏ những gì không cần thiết cho cuộc sống của bạn, đó là những tâm lý buồn, giận, ganh, ghét, hơn, thua…Cho đến khi nào những tâm ái thủ đó được từ bỏ, trái tim từ bi của bạn sẽ bỗng dưng nở nụ trưng bày giữa biển khổ mênh mông. Và lúc đó, như thiên nga đã lìa ao hồ, bạn sẽ rong chơi tự tại ngay trên cuộc đời trần cấu này mà không cần phải chờ đợi đến một ngày nào đó sau khi đã hoàn tất những khát vọng. Thử một lần tự hỏi: cho đến giờ phút này, bạn đã cầm chắc trong tay được cái gì giữa cuộc sống ngắn ngủi và không ngừng trôi chảy này? Thay vì một ngày nào đó bạn sẽ phải ra đi với những muộn phiền: được, mất, hơn, thua…, tại sao không bây giờ và ở đây sống thảnh thơi với hạnh phúc-thực tại, một hạnh phúc không bản ngã và nó chỉ hiện hữu bao lâu bạn còn sống, hiểu theo đúng nghĩa của từ này. Khi bị đắm chìm trong mộng mị, có nghĩa là bạn đã đánh mất sự sống của chính mình. 5. Bên
Bờ Mộng Tưởng Bạn thân mến, Dựa vào nền tảng nào để bạn có thể nhìn thấy rằng hiện hữu chỉ là một cõi mơ? Vâng, đấy là một câu hỏi then chốt, như chiếc chìa khóa vàng, để bạn mở cánh cửa ảo vọng-nghìn năm và bước vào thế giới thực tại, một thế giới ở bên kia bến bờ của mộng tưởng. Kinh Trái Tim, như bạn thấy đó, đã dùng một chuỗi phủ định liên hồi, cũng còn gọi là phủ định của phủ định, để đánh tan mọi phân biệt về có, không, sinh, diệt, về thường, đoạn, khứ, lai, hay nói đơn giản là bất kỳ những bám víu và phân biệt nào, cho dù sự phân biệt và bám víu đó là sinh tử hay Niết bàn. Một cách thức phủ định như thế không ngoài mục đích xua tan mọi phân biệt cho đến những ý niệm về phân biệt để đưa bạn về với thế giới xả ly, vô niệm. Đấy là một thế giới “viễn ly điên đão mộng tưởng”, là suối nguồn thực tại, là bản thể uyên nguyên vốn không hề sinh diệt. Điều quan trọng mà bạn cần phải lưu ý đó là thế giới đó không phải là những gì chỉ có thể đạt được sau khi chết, mà trái lại, nó luôn luôn hiện hữu ở đây, ngay tại con người này và mảnh đất trần thế này. Hãy lấy một thí dụ, khả tính nghe của bạn ba mươi năm trước đây— khi còn là một hài đồng—và bây giờ, tức là ba mươi năm sau, có khác nhau không? Không. Nó vẫn là như thế! Bạn có thể sử dụng cái khả tính nghe cũng như bị chi phối bởi nó theo nhiều cách khác nhau, nhưng cái khả tính đó từ bản chất nó không hề thay đổi. Hễ có tiếng động là khả tính nghe xuất hiện một cách tự nhiên không phân biệt. Cũng vậy, thân thể của bạn tuy già cỗi theo năm tháng và chuyển hóa theo luật vô thường, nhưng giác tính của bạn vẫn là như thế. Nên nhớ rằng, bạn có tuổi nhưng tâm hồn của bạn không có tuổi. Và do đó, bao lâu bạn còn giữ được sự hồn nhiên, hay nói khác hơn, lấy sự hồn nhiên làm nền tảng cho cuộc sống thì bấy lâu bạn vẫn trẻ thơ và vẫn là trẻ thơ. Bạn đừng bận tâm quá nhiều vào tuổi tác, vì bản chất của tuổi tác không gì khác hơn là sự chồng chất của vui, buồn trong kiếp người mà thôi, dẫu rằng người ta thường xem tuổi tác như một thứ kinh nghiệm quan trọng. Trong dòng thực tại của tâm, tuổi tác không hề có một ý nghĩa nào. Nhưng trong thế giới của mộng tưởng, tuổi tác quả thực là ấn tượng vì nó là sự nối kết những biến cố thăng trầm của đời người. Nhưng làm sao để quay lại với tuổi thơ khi mà tóc của bạn đã đổi màu và da của bạn đã dần khô cứng và sếp lại từng nếp nhăn? Vâng, chúng ta cảm ơn Kinh Trái Tim vì đã cho ta một phép lạ nhiệm mầu, đó là con đường sống xả ly, không cố chấp và không bám víu, cho dù sự bám víu đó được đặt ra trên căn bản của khát vọng về một miền Niết bàn vĩnh cửu. Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi cho rằng khát vọng về Niết bàn là điều mà con người hằng mong ước, vì Niết bàn trên nguyên tắc khác hẳn với thế giới sinh tử, vô thường kia mà? Một suy nghĩ như thế, vâng, nghe có vẻ hợp lý trong suy luận của bạn, nhưng dòng suy nghĩ đó rõ ràng vẫn cưu mang đâu đó những chiều kích của tâm phân biệt, nhị nguyên. Trong khi đó dòng thực tại đang mãi miết chảy không hề có bất kỳ khái niệm nào về sinh tử hay Niết bàn. Cũng như bản chất của rượu, nó không hề có đặc tính “say” mà do con người “say” đó thôi. Đó là lý do tại sao, Kinh Trái Tim dùng chuỗi phủ định liên hồi để kết thúc bằng một phán quyết rằng “không có gì để đạt được hết” (vô trí diệc vô đắc). Vì lẽ, mọi sự diễn ra trên con đường giác ngộ chẳng khác nào một ông già biến thành trẻ con khi ông ta quẳng hết gánh ưu phiền để nô đùa với chúng. Cũng
vậy, cho đến khi nào
bạn thực
sự chân thành sống xả
ly, nghĩa là sống vượt
lên trên mọi phân biệt
héo hắt, thì
lúc bấy giờ khả tính
của giác ngộ sẽ thực
thụ hiển bày. Và bấy
giờ bạn là Phật
và Phật chính là bạn.
Hay nói theo ngôn ngữ của
Bát nhã, huyễn mộng và
Niết bàn
không hai không khác (samsāram
eva nirvānam).[ii]
Vâng, điểm đến
của Bát nhã là như
thế. Ố kià! tâm bất
sinh, nó ở bên kia bờ
của
mộng tưởng! Ngay bây
giờ, bạn có thể
đến đó bằng con
đường xả ly, vô
niệm. Sóng
về xóa dấu
chân không Bỗng
dưng thuyền đã
bên dòng chân như. 6. Con
Đường Cho Những Ai… Bạn thân mến, Đến đây, lại một lần nữa, bạn hãy tự hỏi: mục đích cuộc sống của bạn là gì? Phải chăng đó là hạnh phúc và chân lý. Và ở một bình diện nào đó, cả hai chỉ là một. Vì khi bạn thực sự trực nhận được chân lý, khi đó bạn có hạnh phúc. Hạnh phúc và chân lý sẽ khác nhau khi chúng được đặt trong những quy ước của tập quán suy tư, nhưng trên chiều tuyệt đối, chúng không hề có khác biệt nào. Cũng
vậy, khi Người Tỉnh
Thức Bình
Yên trực nhận rằng bản
chất của hiện hữu chỉ
là một cõi mơ,
người đồng thời
vượt
qua mọi khổ đau trong ý
nghĩa “sống
tự
tại”. Và nền
tảng của lối sống tự
tại, giải thoát mọi
ràng buộc đó đã
được đúc
kết thành những kinh nghiệm
tâm linh quan trọng mà Kinh
Trái Tim bảo rằng: “Người
Tỉnh Thức
Bình Yên, do không sở
đắc nên sống an lành
trong Tuệ giác Vô thượng
và thoát ly
tất cả chướng ngại.
Và rằng, vì không có
những chướng ngại trong
tâm nên không
có sợ hãi và xa rời
những cuồng si mộng
tưởng, cứu cánh Niết
bàn.” Vâng, đây
chính
là con đường dành cho
những ai đang băn khoăn
giữa ngả tư
đường, nơi mà
bên này
là trần tục và bên kia
là thánh thiện.
Nói khác
hơn, bạn đang sống trong
một bối cảnh đa đoan
phân biệt và với một
tâm thức cũng
đa đoan phân biệt, chính
cái đa đoan phân biệt
đó luôn thúc đẩy
bạn đi đến những
lựa chọn mà tự nó bao
giờ cũng chia rẻ bất
kỳ cái gì bạn thủ
đắc trong tay, cho
dù đó là Niết
bàn. Và sự thật là,
trên con đường tìm
kiếm hạnh phúc và chân
lý,
càng lựa chọn thì càng
rối ren. Cuối cùng thì
đó vẫn không phải
là lối thoát thực
thụ cho cuộc sống bình
yên nội tại của bạn.
Ở đây, “vượt
qua khổ đau trong ý
nghĩa sống tự tại”
là một con đường
thực tiễn, khả dĩ
đưa đến hạnh
phúc ngay
trong hiện tại. Tuy nhiên,
trên thực tế, bạn có
thể nghĩ rằng, nếu bỏ
hết mọi đa đoan phân
biệt thì cuộc đời
của bạn sẽ ra sao đây?
Thế giới sẽ trống
vắng ư? Hay thế giới
sẽ hoang dã ư? Không
phải vậy! Khi mọi đa
đoan phân biệt
được đặt
xuống, lúc đó bạn
sẽ thực thụ tắm
mình trong dòng hạnh
phúc-thực tại, và bấy
giờ cũng là lúc trái tim
đại bi của
bạn bắt đầu thức
tỉnh. Chính trái tim đại
bi là nguồn mạch của
sự sống, nó nuôi
lớn thánh tâm nơi bạn
và cũng là chiếc thuyền
từ cứu độ tha nhân.
Tâm đại bi và
tuệ giác bao giờ cũng là
sự nghiệp của một vị
Phật hay một vị Bồ
tát. Với tâm đại
bi đi vào đời, bạn
sẽ không mệt mỏi vì
trán ướt đẫm
mồ hôi để làm
lợi ích cho
chúng sinh. Và có khi dòng
nước mắt đại bi
cũng chảy dài trên
đôi má chan hòa cùng
cái đau thương của
những kẻ đang lang thang, thất
thểu bên hè cùng với
đói nghèo
và bệnh tật. Tâm
đại bi là đóa hoa
bất tử. Bạn không thể
sống hạnh phúc nếu
thiếu
vắng tâm đại bi. Nói tóm
lại, khi đã buông bỏ
mọi bám víu, đa đoan,
tâm của bạn sẽ như
hư không chan hòa
cùng ánh sáng, ở
đó sẽ không còn
bất kỳ một tỳ vết
nào của tự ngã, và do
đó bạn
vượt qua mọi chướng
ngại. Kinh nhấn mạnh rằng,
“vì không có những
chướng ngại
trong tâm nên không có sợ
hãi và xa rời mọi cuồng
si mộng tưởng.” Và,
đó chính
là lúc Niết bàn hiển
lộ, hay nói khác đi,
đó là lúc bạn
thực thụ sống Niết
bàn.
Bấy giờ, gia tài bất
diệt mà bạn sẽ mang theo khi
đi vào đời là
tuệ giác vô thượng
và trái tim đại bi. Thay
lời kết Bạn thân
mến, Kinh
Trái Tim
qủa là thanh kiếm báu
để chặt đứt
phiền lụy thế gian. Tuy
nhiên, chỉ khi nào ứng
dụng những lời dạy
của kinh vào cuộc sống
thực tiễn, bạn
mới “thưởng
thức” được
hương vị nhiệm mầu
của nó. Những thắc mắc
mà bạn đang cưu
mang (nếu có) sẽ
được trả lời
bằng đời sống xả ly
của chính bạn, vì ngôn
ngữ héo
hắt của chúng ta không
làm sao diễn đạt
được cái mà tự
thân nó là phi ngôn ngữ.
Cũng như tình yêu, không
ai có thể diễn đạt
nó được, chỉ có
sự cảm nhận và thể
nghiệm trong im lặng mà thôi. Tất cả
những
gì mà chúng ta, trong một
giới hạn nhất định,
học được từ Kinh Trái Tim không
ngoài mục đích làm cho
đời sống của chúng ta
trở
nên có ý nghĩa thực
sự, vượt lên trên
mọi đa đoan của lòng
người để sống
tự tại
giữa thế gian và làm
lợi ích cho thế gian.
Trước khi giã từ bức
thông điệp này,
mong bạn hãy nhớ: “với
tinh thần không sợ hãi,
bạn hãy là người
tỉnh thức bình
yên đi vào thế gian
để xây dựng Niết
bàn, vì quê hương
của Niết bàn là trần
thế!”
Gate
gate pāragate
pārasaṃgate bodhi svāhā. [i] “Hữu” (có), “vô” (không), “sinh” (sinh khởi), “diệt” (đoạn diệt), “thường” (thường hằng), “đoạn” (không thường hằng), “đồng” (giống), “dị” (khác), “khứ” (đi), “lai” (đến). [ii] Nagarjuna. Mūlamadhyamakakārikā. Chapter XXV, vv. 19–20. See: 大正新修大藏經 Taisho 1564 (Cf. Nos 1564–1567), Vol. 30, pp. 01.30 (Chinese version).
|