|
|
Thông điệp Kinh Trái Tim
(Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh)
Thích Tâm Thiện
(Bản in năm 1997 - có sửa chữa, bổ sung)
Thưa qúi
Phật tử,
Hôm nay, xin trình
bày về kinh
Trái Tim (Tâm Kinh), một bản kinh
rất ngắn mà các Phật
tử trì tụng mỗi ngày.
Hầu hết chúng ta đều
thuộc lòng bản kinh ngay khi còn
theo mẹ lên chùa lễ
Phật.
Không riêng gì ở Việt
Nam, mà các nước Phật
giáo trong vùng Viễn
Ðông, châu Á,
và ngày nay thì cả các
nước Âu-Mỹ đều
rất quan tâm đến bản
kinh vắn này (Heart
Sūtra). Tuy nhiên, chúng ta hiểu
rất ít về Tâm Kinh. Mục
tiêu chính của Tâm
Kinh là mô tả con
đường thực tiễn
để đạt đến
“cứu cánh Niết
bàn” - mục tiêu tối
hậu của hành trình tâm
linh chứ không phải là
“kinh bổ khuyết”, như
một số quan
niệm. Do đó, Pháp thoại
hôm nay sẽ được
trình bày đại
cương về thông
điệp của
Tâm Kinh.
Trước
hết, nói về hai chữ:
Tâm Kinh
(Heart Sūtra). Tâm
Kinh là tựa đề gọi
tắt của bản kinh mà
người Trung Hoa dịch từ
tiếng Phạn (Sanskrit) là: Prajñāpāramitā
Hrdaya
Sūtra;
Hoa dịch
trọn vẹn là Bát-Nhã
Ba-La-Mật-Ða Tâm Kinh. Chúng ta
có thể hiểu đại
khái như
sau: Bát-nhã là trí tuệ (Prajñā), Ba-la-mật-đa
là bên kia bờ (pāramitā), Tâm là
phần tinh yếu nhất, hay còn
gọi là “trái tim” (Hrdaya) - hiểu theo
nghĩa đen lẫn nghĩa
bóng, và Kinh là những
điều do Ðức Phật
dạy (Sūtra).
Như vậy có thể nói
Tâm Kinh là “bản kinh
nói về Trí tuệ ở
bên kia bờ”, hay là
“Kinh Trái Tim Tuệ Giác
Vô Thượng”.
Nội dung chính
của kinh được
trình bày cụ thể qua câu
luận đề, mở
đầu kinh như sau: "Quán
Tự Tại Bồ
Tát hành thâm Bát nhã Ba
la mật đa thời, chiếu
kiến ngũ uẩn giai không,
độ nhất
thiết khổ ách”.
Nghĩa là: "Khi tiến sâu
vào nguồn mạch của Tuệ
giác
Vô thượng, Người
Tỉnh Thức - Bình Yên
(Bồ Tát Quán Tự Tại)
soi sáng như thực
rằng tự tính của năm
hợp thể đều là
Không, liền thoát ly mọi
khổ ách”.
Ở đây,
chúng ta sẽ tìm hiểu về
nội dung thông điệp của
Tâm Kinh qua một số
điểm cơ bản như sau:
1- Năm uẩn:
Mở đầu,
chủ thể quan sát ở
đây là
Bồ Tát Quán Tự Tại,
người đi sâu vào
thiền định (hiện quán)
để quán sát năm
hợp
thể (uẩn). Kết quả
của sự quán sát
đó là thấy rõ
tự tính của năm hợp
thể vốn
Không (đương thể
tức không) và giải thoát
(độ nhất thiết khổ
ách). Ðây là nội
dung chính của thông
điệp Tâm Kinh hay nói
khác hơn, đó cũng
là điểm then chốt
trong toàn bộ cơ cấu tư
tưởng triết học Phật
giáo Đại Thừa.
Ðức Phật
dạy rằng: “Con người
là
một hợp thể của năm
uẩn”. Năm uẩn là con
người và năm uẩn
cũng là thế giới. Và,
“nếu không biết rõ
bản chất của năm uẩn
thì không thể giải thoát
sinh tử khổ
đau”. Cũng như con
người nếu không biết
rõ về trạng thái tâm
lý và cơ thể của
mình thì sẽ không
điều hòa bệnh tật
được và sẽ
thiếu vắng sự an lành. Do
đó,
biết rõ (liễu tri) về
năm uẩn và thường
xuyên quán sát, thiền
định về năm uẩn
là con đường tu tập
thực tiễn, khả dĩ
đưa chúng ta đi vào
thực tại giải thoát.
Vậy,
năm uẩn là gì? Năm uẩn là
năm hợp thể (Skandhas)
hình thành nên con người;
bao
gồm: sắc, thọ, tưởng,
hành, và thức.
a) Sắc uẩn
là những cấu trúc
thuộc về vật chất hay
vật lý, một trong những
yếu tố hình thành nên
con người
và thế giới sự vật
hiện tượng. Ðối
với con người, sắc uẩn
chính là thân thể (tứ
đại) bằng xương
bằng thịt này. Các yếu
tố như: tóc, lông, móng,
răng, da, thịt,
gân, xương, cốt, tủy,
tim, gan, phổi, thận, bao tử,
hoành cách mô v.v... cho
đến các tạp chất
nuôi dưỡng cơ thể... hay
các nguồn năng lượng
tiềm ẩn (vô biểu
sắc) trong cơ thể...
đều được gọi
là sắc uẩn.
b) Thọ uẩn
là cảm thọ hay cảm
giác của con người bao
gồm ba loại: cảm thọ
khổ đau, cảm thọ an
lạc, và cảm thọ
không khổ không lạc.
c) Tưởng
uẩn là các ấn
tượng của
tri giác, hay là các hình
ảnh, khái niệm, ngôn từ
trong tâm thức.
d) Hành uẩn
là sự tạo tác của
tâm
thức như tư duy, khát
vọng, chấp thủ v.v...
e) Thức uẩn
là sự tri giác phân
biệt hay nhận thức, nó
thuộc về chức năng
hoạt động của ý
thức. Tỉ dụ như khi
chúng ta nhìn, nghĩa là con
mắt nhìn, nhưng sự thấy
biết là do chức năng
của
nhãn thức chứ không
phải là do con mắt. Nếu con
mắt tự thấy mà không
cần đến
thức của nó thì khi móc
con mắt ra ngoài, ta có thấy hay
không? Tương tự như
vậy đối với các
uẩn còn lại.
Như thế ở
đây, ý thức hay tâm
thức là nguyên động
lực chi phối toàn bộ
năm uẩn. Ðây là
lý do Ðức Phật dạy
“Ý
(tâm, thức) dẫn đầu
các pháp, ý làm chủ
tạo tác, đối với
ý nhiễm ô, nói năng
hay hành động, khổ não
bước theo sau, như bánh xe
đi theo chân con vật kéo...
Ðối với ý thanh tịnh,
an lạc bước theo sau, như
bóng không rời hình”
(Kinh Pháp
Cú). Do đó “hành
thâm Bát nhã” chính
là sự nỗ lực vận
dụng tâm của mình
để quán
chiếu ngay nơi tâm thức
và thân thể của mình.
Ðây là ý nghĩa
của quán tâm trên tâm
và thân trên thân (trong
Tứ niệm xứ quán).
2- Năm uẩn
là Không
Trên đây,
vừa trình bày về thành
phần của năm uẩn. Bây
giờ, chúng ta sẽ tìm
hiểu về ý nghĩa của
“năm uẩn là
Không”.
Trước
hết, về Sắc uẩn - tức
thân
thể con người (nội
sắc) và các đối
tượng tương duyên
của nó (ngoại sắc)
đều là
Không. Vì sao nói Sắc
uẩn là Không?
Ở đây,
các anh chị em thử lấy con
người làm đối
tượng quán sát. Chúng ta
sẽ thấy rằng, nếu nhìn
từ một toàn thể
(universal), thì con người bao
gồm hai yếu tố: vật lý
(thuộc về sắc) và tâm
lý
(thuộc về thọ, tưởng,
hành và thức). Như thế,
một con người bao giờ
cũng phải
đầy đủ hai yếu
tố cơ bản, vật lý
(thể xác) và tâm lý (tinh
thần hay cụ thể là:
thọ, tưởng, hành, và
thức); điều đó
có nghĩa là con người
là một hợp thể của
năm uẩn. Và con người
(năm uẩn) đó chỉ
tồn tại theo một chu kỳ
nhất định (có
thể là trăm năm) và
được giới hạn
bởi hai đầu sinh và tử;
vì có sinh nên có tử.
Từ đó cho thấy rằng,
con người trong kết cấu
của năm uẩn vốn không
có một ngã thể
(self) trường tồn bất
diệt, vì vậy “năm
uẩn là Không” hay không
có một tự tính
nào trong thân năm uẩn.
Ngược
lại, nếu nhìn con người
qua
phân tích của mỗi
đặc thù (particular), thì
cái mà gọi là con
người sẽ không
còn nữa. Bởi lẽ, từ
thể chất nguyên thủy,
mỗi thai nhi tựu thành
đều do sự kết
hợp của cha, mẹ và
kiết sanh thức (gandhabba)
hay ý niệm tối sơ, cũng
còn gọi là “tập
khí nghiệp thức” từ
nhiều kiếp sống
trong quá khứ. Và thực
thể của những “khí
chất đầu tiên”
đó cũng chỉ là
sự
tương duyên, nó không
hề có một ngã tính.
Hơn thế nữa, dưới
lăng kính của đơn
vị đặc thù (particular),
cái chân không thể gọi
là con người, cái tay
không thể
gọi là con người, cái
ý thức cũng không thể
gọi là con người; trái
lại, con
người chỉ có thể
hiện hữu khi nó hòa
phối đầy đủ
các yếu tố của tâm
lý và vật
lý. Vả lại, bản thân
của cơ thể vật lý
như: tay, chân, cơ bắp v.v... cho
đến ý
thức nó luôn luôn biến
đổi, sinh diệt không
ngừng trong từng khoảnh khắc,
như
sự sinh diệt của mỗi
tế bào nhỏ nhiệm trên
làn da hay trong dòng máu.
Ðiều đó
cho thấy rằng năm uẩn
hoàn toàn không có tự
tính hay ngã tính nào,
bởi vì nó
sinh diệt liên hồi. Năm
uẩn là tiến trình hiện
hữu (process of becoming) chứ
không phải là thực thể
(entity) hiện hữu. Do đó
chúng được gọi
là Không.
3- Tiến trình
hiện hữu của
năm uẩn
Như chúng ta
thấy, thực tính của
năm uẩn là tương
duyên, vô thường. Nhưng
tại sao lại xuất hiện
khái niệm tự
tính để rồi phải
phủ nhận cái tự tính
đó?
Nếu đi vào
hiện quán, chúng ta sẽ
thấy rằng ý thức về
tự ngã thật ra chỉ là
một quá trình tích tụ
của những ảnh
tượng (tưởng) và kinh
nghiệm (thọ, tưởng,
hành và thức) từ quá
khứ vô tận. Dòng
quá khứ đó, tất
nhiên, là mộng tưởng
hão huyền, vì trong thực
tại nó không hề
có và không hiện hữu.
Tuy nhiên, chúng ta nên biết
cái ý niệm về tự
ngã từ đâu
sinh?
Tâm Kinh nói
rằng, ý thức tự ngã
sai lầm đó được
sinh ra từ mối tương
duyên, tương tác của 18
điểm sinh khởi
(dhātus), tức là các uẩn
(skandhas),
xứ (ayatanas) và giới (dhātus).
Nói một cách cụ thể, 18
điểm sinh khởi bao gồm:
6 căn (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý), 6
trần (sắc, thanh, hương,
vị, xúc, và
pháp); sự giao tiếp giữa 6
căn và 6 trần sẽ hình
thành 6 thức (hay tri giác của
mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý). Cộng chung 6
căn, 6 trần, và 6 thức
nên gọi là
18 điểm sinh khởi (giới).
Tỉ dụ, khi con mắt (nhãn
căn) nhìn một cành hoa
(trần)
rồi sinh khởi ý niệm
về cành hoa đó (thức).
Như thế, con mắt nhìn
cành hoa rồi
sinh khởi ý thức về
cành hoa là quá trình
tương tác của các
uẩn, xứ, giới. Ở
đây,
nếu tách 5 uẩn, 12 xứ,
và 18 giới ra thành từng
cụm riêng biệt, thì thế
giới sẽ
thực thụ biến thành
rỗng không, mọi ý niệm
về ngã—cái tôi,
cái của tôi, và cái
tự ngã của tôi—
sẽ biến mất hoàn toàn.
Do đó, cái mà chúng ta
gọi là thế giới
quan hay nhân sinh quan, trong cái nhìn
của Phật giáo và
đặc biệt là trong lăng
kính của Bát nhã, chỉ
là những ý niệm hão
huyền.
Và nữa,
đối với con người,
năm
uẩn là hiện thân vòng
tròn 12 nhân duyên
được trình bày
như sau: 1.Vô minh
(Ignorance): sự mê muội và
cuồng si của tâm thức; 2.
Hành (karmic formations):
các cấu trúc của dòng
tâm thức; 3. Thức (consciousness): Tri
giác - hiện hữu
(vì thức không thể có
trong quá khứ hoặc tương
lai); 4. Danh sắc (corporeality
and mentality): danh thuộc về tâm
lý, sắc thuộc về vật
lý; 5. Lục nhập (six sense-bases):
sáu quan năng (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý)
tiếp xúc với sáu trần
(sắc,
thanh, hương, vị, xúc và
pháp); 6. Xúc (contact): sự giao thoa
giữa căn, trần,
và thức; 7. Thọ (feeling): sự
cảm thọ; 8. Ái (craving): sự
yêu thích, khát
vọng; 9. Thủ (clinging): sự cố
chấp, bám víu; 10. Hữu (process
of becoming):
tiến trình hiện hữu hay
các cõi của chúng hữu
tình; 11. Sinh (birth): sự sinh
ra, hình thành; 12. Lão - tử (old
age-and-death): sự già nua và tử
biệt.
Mười hai
nhân duyên, nếu phân
tích theo thời gian vật lý,
nó là một tiến trình
luân lưu từ qúa khứ
đến hiện tại
và vị lai; nếu phân tích
theo dòng tâm thức, nó là
một vòng tròn, trong đó,
mỗi
sát na (khoảnh khắc giữa hai
ý niệm) đều có
đầy đủ 12 nhân
duyên. Sự lưu chuyển
của 12 nhân duyên
được diễn ra theo hai
chiều của Bốn chân lý
(khổ, tập, diệt,
đạo), đó là con
đường lưu chuyển
và hoàn diệt. Trên con
đường lưu chuyển, 12
nhân duyên sẽ đi từ
nhân (tập) đến quả
(khổ). Trên con đường
hoàn diệt, 12 nhân
duyên sẽ đi từ nhân
(đạo) đến thoát ly
nhân quả (diệt), tức
đã đến bờ bên
kia,
cứu cánh Niết bàn.
Từ
đây, ta thấy rằng cội
nguồn của tự ngã là
không thật có. Tất cả
pháp, cả vật lý và
tâm lý, đều là
hiện hữu của nhân duyên
nên vô thường, vô
ngã. Vì thế kinh nói
rằng “ngũ uẩn giai
không”. Chúng ta vừa
khảo sát về bản chất
của con người qua các
uẩn, xứ, giới, 12 nhân
duyên và 4
chân lý. Ðể hiểu
rõ về giáo lý này,
mỗi Phật tử cần phải
dừng lại mọi vọng
tưởng để đi vào
hiện quán (thiền định).
Sự thông hiểu thật sự
đối với bản chất
của các pháp chỉ có
thể đạt được
qua thể nghiệm của tự
thân.
4- Tính Không trong
Tâm Kinh
Về ý nghĩa
của chữ “Không” (Śūnyatā) trong
Tâm Kinh, trước hết
chúng
ta cần lưu ý rằng,
“Không” ở đây
không có nghĩa là
đối lập với có,
mà “Không”
là thực tính Duyên sinh
của hiện hữu (dharmas). Do
đó, Không chính là
“Bản tính
không” hay “Tất cánh
không”, nó ở bên kia
bờ của khái niệm, luận
lý. Chúng ta
chỉ có thể đi vào
Tính Không thực thụ khi
nào đã thoát ly mọi
khái niệm, luận
lý của tư duy hữu ngã,
thuộc thế giới nhị
nguyên, nghĩa là đi ra
khỏi mọi đối
lập của các phạm trù
hữu-vô, sinh-diệt,
thường-đoạn,
đồng-dị, khứ-lai; cũng
như
thoát ly ngoài thế giới
phân biệt giữa chủ thể
và khách thể. Ðó
là lý do tại
sao Tâm Kinh phủ nhận tất
cả uẩn, xứ, giới, phủ
nhận luôn cả bốn chân
lý và mười
hai nhân duyên; cho đến
cả trí giác và sự
chứng đắc của trí
giác đều bị phủ
nhận. Ðiều này
đơn giản chỉ vì
các uẩn, xứ, giới,
mười hai nhân duyên và
bốn
chân lý... đều là
khái niệm được
dùng để chỉ các
hiện tượng tâm lý
và vật lý,
nó chỉ có ý nghĩa
đối với người
còn vô minh. Với những
tâm thức chưa giác ngộ
thì thế giới này và con
người này là có
sinh-diệt, có nhân-quả,
có phàm-thánh
v.v... Nhưng nếu dùng Tuệ
giác vô thượng (Bát
nhã trí) để soi sáng
vũ trụ vạn
hữu này, thì bản chất
của các pháp đều
là không, cho đến cái
ý niệm về không
cũng không có, nên gọi
là “Tất cánh
không”. Do đó, không
thể nói là có quả
vị
nào đó để chứng
đắc; vì nếu còn
có quả vị để
chứng đắc nghĩa là
còn đối lập với
cái không quả vị
được chứng
đắc. Sự có và
không này rơi vào nhị
nguyên luận.
Cho nên, mọi khái niệm
về có và không
đều mang tính chất công
ước và được
nói
cho người chưa giác ngộ,
chứ không phải nói cho
bậc thánh trí tự chứng.
Cũng
vậy, tính Không ở
đây vượt ngoài
tương đối tính;
nó đồng nghĩa với
Diệt đế,
Niết bàn tối thượng.
Chúng ta không thể hiểu
biết toàn diện về tính
Không, trừ
phi đã qua đến bờ
bên kia.
5- Triết lý
Sắc-Không
Kinh bảo rằng:
“Sắc chẳng khác
Không, Không chẳng khác
Sắc, Sắc tức là Không,
Không tức là
Sắc…” Ðây là
một
trong những vấn đề rất
khó hiểu của Tâm Kinh
nói riêng và tư
tưởng Phật giáo
Đại
thừa nói chung. Vì rằng, theo
nguyên tắc logic của tư duy
như được trình
bày
bởi Aristotle thì tư duy của con
người dù phức tạp
như thế nào đi nữa
cũng phải
diễn ra trong ba qui luật như sau:
a) Qui luật
đồng nhất: Qui luật
này bảo rằng, một vật
thể khi được gọi
là A, thì nó phải luôn
luôn là A. Công
thức: A = A
b) Qui luật cấm
mâu thuẫn: Qui
luật này bảo rằng, một
vật thể hoặc
được gọi là A,
hoặc là B, chứ không
thể vừa
là A lại vừa B. Công
thức: A = A hoặc B = B
c) Qui luật triệt
tam: Qui luật
này bảo rằng, một vật
thể chỉ được
gọi hoặc là A, hoặc là
B chứ không có trường
hợp thứ ba xảy ra. Công
thức: A =/= B
Trong khi đó, theo
nguyên lý
Duyên sinh (Paticcasamupāda),
tất cả
thế giới sự vật hiện
tượng này là vô
thường, chúng luôn luôn
thay đổi và không
ngừng trôi chảy như
Héraclite đã nói:
“Không ai có thể
đặt chân hai lần trên
cùng một dòng
nước.” Điều
này có nghĩa là, hiện
hữu luôn luôn biến
đổi, vô
thường; và do đó,
một vật tuy được
gọi là A nhưng nó luôn
luôn khác A. Ðây là
cơ sở để chúng ta
hiểu triết lý Sắc-Không.
Tâm Kinh nói:
“Sắc chẳng khác
Không, không chẳng khác
Sắc.” Rõ ràng, sắc
và không ở đây
trước hết được
đề cập
như là hai phạm trù riêng
biệt; rồi sau đó hai
phạm trù riêng biệt này
bị phủ định
bằng một phát biểu
tiếp theo, rằng “Sắc
tức thị không, không
tức thị sắc.”
Điều
này có nghĩa là sắc
và không là không hai,
không khác. Để hiểu
ý nghĩa của cách
diễn đạt này, chúng ta
có thể lấy hình ảnh
của sóng và nước
để làm thí dụ.
Sóng
không khác với nước
và nước không khác
với sóng. Sóng không khác
nước ở mặt tự
thể, vì sóng do nước
mà sinh ra. Nước không
khác sóng ở mặt hiện
tượng, vì nước
chuyển động mạnh tạo
thành sóng. Do đó, sóng
là nước và nước
là sóng. Tương tự
như vậy đối với sinh
tử và Niết bàn.
Đây là một cách
diễn dịch về
Sắc-Không,
thông qua cách diễn dịch
này, chúng ta có thể
ngầm hiểu được
triết lý Bất nhị
(không hai) của Bát nhã,
đó là một cánh
cửa “siêu việt mọi
đối đãi của
nhị nguyên”
để thiết lập
“tịnh độ” ngay
tại con người này và
thế giới này.
6- Thành tựu
giác ngộ giải
thoát
Vì sao Tâm kinh
nói: “Vô trí diệc
vô đắc” nghĩa
là “Không có trí
giác và không có sự
thành tựu trí giác”,
mà ở
đây lại đề cập
đến sự thành tựu
giác ngộ - giải thoát?
Vì rằng, sự thành tựu
giác ngộ - giải thoát theo
tư tưởng Phật giáo
nói chung, là sự trở về
với thể
tánh uyên nguyên, vốn có
trong mỗi con người, chứ
không phải là sự nắm
bắt được
một cái gì mới mẻ, xa
lạ. Và sự thành tựu
này chính là sự
đạt đến trí
tuệ vô
ngã hay thể nhập thực
tại Tính Không, Niết bàn
tối thượng. Như
đào ao, không
cần đi mời trăng
đến, khi nào có ao và
nước trong đó
được bình lặng
thì mặt
trăng tự nhiên hiện ra.
Ðây là ý nghĩa
“vô trí diệc vô
đắc” (không có
trí cũng
không có chứng đắc)
của Tâm Kinh. Và trí tuệ
vô đắc (Bát nhã
trí) này là mẹ của
ba đời chư Phật. Tất
cả chư Phật trong quá
khứ, hiện tại và vị
lai đều nương vào
trí tuệ này mà thành
tựu vô thượng chánh
giác. Tất nhiên, sự
thành tựu vô
thượng chánh giác, theo
diễn đạt của Tâm Kinh,
được khởi đầu
bằng con đường
“chiếu
kiến ngũ uẩn”, tức
là đi vào hiện quán
về năm uẩn. Thực hành
như vậy cho đến
khi nào thấy rõ “năm
uẩn” và bản chất
của chúng là “không
có tự tính” (vô
tự tính),
tức là thành tựu giác
ngộ. Và kết quả của
sự giác ngộ này là
“độ nhất thiết
khổ
ách” (giải thoát toàn
triệt). Quá trình tu tập
như thế được
gọi là “hành thâm
Bát-nhã Ba-la-mật”. Trên
đây là tất cả
những gì được
chứa trọn trong câu luận
đề, mở đầu
của Tâm kinh.
7- Bên kia bờ
Kết luận,
Tâm Kinh tuyên nói câu
linh ngữ rằng: “Gate, gate;
pāragate, parasamgate, Bodhi,
svāhā!” Tiếng
Việt là: “Ði qua, đi
qua; đi qua bờ bên kia,
đã đi qua đến
bờ bên kia, svāhā!”
Các Phật
tử thân mến, khi
được
nạn vấn về những gì
bên kia bờ, Ðức Phật im
lặng!
"Sóng về
xóa dấu
chân không
Bỗng dưng thuyền đã
bên dòng Chân như".
Nam mô Đại Bi
Quan Thế Âm Bồ Tát
|